Tag Archives: ống sủi tạo oxy ao tôm

Bền vững nuôi tôm tuần hoàn nước xanh

Một trong những hộ nuôi được xem là thành công nhất của dự án là anh Ngô Văn Sử.

Anh nuôi được 6 vụ, chỉ thất bại 2 vụ. tag: ong nano-tube

Nhưng 2 vụ này anh vẫn thu hồi được vốn, 4 vụ còn lại trung bình anh thu về 70 triệu đồng/vụ.

Theo anh Sử, có được kết quả trên là do cây lúa tạo môi trường nước xanh, sạch khi cấp cho ao nuôi, giúp tôm phát triển tốt.

Mô hình này được nhiều hộ dân học hỏi và cho hiệu quả cao hơn cách làm truyền thống.

Môi trường sạch, hiệu quả cao

Dự án được triển khai năm 2013 với điều kiện vuông tôm phải có ao trữ nước ngọt, bờ vuông phải được gia cố, không rò rỉ.

Bước đầu có 12 hộ tham gia, trong đó 6 hộ thực hiện mô hình và 6 hộ thực hiện đối chứng để so sánh.

Mục tiêu là giảm chi phí sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng cho tôm và lúa được các hộ tham gia thực hiện đúng quy trình.

Bước đầu 6 hộ nuôi theo mô hình cho năng suất, hiệu quả cao hơn 6 hộ đối chứng.

Anh Ngô Văn Sử cho biết: Nhờ thực hiện khâu rửa mặn đúng quy trình nên cây lúa đã phát triển trở lại trên đất nuôi tôm.

Theo đó, tạo môi trường đất, nước cung cấp cho mô hình nuôi thâm canh tôm sú, tôm thẻ chân trắng theo kỹ thuật và quy trình của Dự án đều cho hiệu quả cao, cải thiện được tình trạng khó khăn mà nhiều năm qua người dân nơi đây không thể thực hiện được.

Nhờ sự nghiên cứu về dinh dưỡng, độ mặn, phèn tiềm tàng trong đất mà các chuyên gia khoa học đã đưa ra giải pháp bón phân, vôi, rửa phèn, mặn hợp lý.

Việc chăm sóc lúa trong giai đoạn nắng hạn cùng với ao trữ nước ngọt được thực hiện ngay từ đầu đã giúp cho mô hình trồng 1 vụ lúa trên đất nuôi tôm thành công.

Song song mô hình lúa phát triển tốt, tạo môi trường trong sạch cung cấp cho ao nuôi tôm thâm canh và một số hộ nuôi quảng canh cải tiến thu nhập tăng hơn so với cách nuôi trước khi thực hiện mô hình. tag: máy sục khí nước thải

Nhân rộng mô hình

Bên cạnh hiệu quả mô hình nuôi bán thâm canh, loại hình nuôi quảng canh cải tiến và truyền thống cũng cho hiệu quả bền vững và năng suất, thu nhập cao.

Do thực hiện hiệu quả vụ lúa nên môi trường đất, nước phù hợp cho con tôm quảng canh phát triển, ít dịch bệnh nên thu nhập của người dân thực hiện trong mô hình ngày càng ổn định.

Ông Dương Thanh Dũng, Bí thư Chi bộ ấp Thị Tường, người thực hiện mô hình, cho biết:

Do người nuôi thực hiện theo mô hình nên số lần thả giống 1 năm chỉ 4 – 5 đợt cùng 1 đợt cua, thu nhập trung bình mỗi năm 150 triệu đồng/ha, có nhiều hộ đạt 200 triệu đồng từ tôm và cua.

Từ đó, nhiều hộ dân trong ấp tự nguyện học hỏi kinh nghiệm và làm theo.

Từ 6 hộ sản xuất theo mô hình, nay tăng lên 18 hộ, tất cả đều nuôi theo dạng tuần hoàn nước xanh.

Trong đó, ngoài thành công bên mô hình nuôi bán thâm canh trên tôm sú và tôm thẻ thì diện tích cấy lúa, nuôi quảng canh truyền thống và luân canh tôm, cua đều cho năng suất và thu nhập tăng theo từng vụ nuôi.

Theo ông Nguyễn Công Thành, Phân viện phó Phân viện Nghiên cứu Thủy sản Minh Hải, đơn vị thực hiện dự án, đánh giá: Qua thực hiện nhiều dự án, mô hình tính đến thời điểm này có thể nói nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh mật độ thưa theo mô hình tuần hoàn nước xanh cho hiệu quả nhất.

Năng suất cả tôm và lúa qua từng vụ nuôi luôn ổn định và cho thu nhập cao.

Từ đó, người dân ngày càng ý thức hơn trong việc duy trì mô hình này.

Nhờ môi trường nuôi sạch được cấp từ nước trên ruộng lúa và mật độ thưa (15 con/m2 đối với tôm sú và 20 – 30 con/m2 đối với tôm thẻ chân trắng) nên tôm mau lớn, ít dịch bệnh. tag: sục khí đáy

Hiện, với 2 ao nuôi tôm sú mật độ 8 con/m2, thời gian gần 3 tháng tôm đạt trọng lượng 40 – 50 con/kg, anh Ngô Văn Sử dự kiến thu về vài chục triệu đồng.

Hiệu quả của quy trình nuôi tôm sử dụng chế phẩm sinh học

Các năm qua, nghề nuôi tôm phát triển nhanh ở một số vùng, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Nhưng vài năm trở lại đây đã bộc lộ nhiều bất trắc, rủi ro, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh lây lan, thua lỗ kéo dài ở một số nơi, một số vùng gây nhiều tác động xấu đến kinh tế xã hội của địa phương, lại còn có nguy cơ diện tích đất đang sử dụng nếu không phát triển nuôi trồng thủy sản thì khó mà trở lại canh tác nông nghiệp, hậu quả xảy ra sẽ rất khó lường. tag: ong nano-tube

Trước tình hình đó, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Phú Yên đã đầu tư nghiên cứu, áp dụng vào thực tế sản xuất quy trình nuôi tôm sử dụng chế phẩm sinh học, nội dung: Quy trình nuôi hạn chế sử dụng hóa chất, kháng sinh, sử dụng phân trùn để gây màu nước, ổn định tảo, chế phẩm sinh học E.M để làm sạch môi trường, cho thủy sản nuôi ăn thức ăn bổ sung E.M Trùn để tăng sức đề kháng, phòng trừ bệnh hại.

Vi sinh vật hữu hiệu E.M (Effective Microorganisms) do Giáo sư Tiến sĩ người Nhật Teruo Higa phát minh vào đầu những năm 1980, là một tập hợp các loài vi sinh vật có ích ( vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn Lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm sợi… ) sống cộng sinh trong cùng một môi trường, có thể sử dụng chúng như một chất nhằm tăng cường tính đa dạng vi sinh vật đất, nước, bổ sung các vi sinh vật có ích vào môi trường tự nhiên, giảm thiểu ô nhiễm do các vi sinh vật có hại gây ra.

Hiện nay, E.M đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu sử dụng như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Mỹ, tổ chức nghiên cứu E.M Châu Âu.

Để phát huy tác dụng của E.M, quy trình nuôi gây màu nước bằng phân trùn để ổn định tảo, tạo nhiều thức ăn tự nhiên cho tôm trong giai đoạn đầu mới thả. Khi tôm 1 tháng tuổi, định kỳ 7 – 10 ngày 1 lần, buổi sáng lúc có nắng dùng E.M thứ cấp tạt đều vào ao nuôi, liều lượng 2 lít/1.000m3 để duy trì tảo ở mức độ hợp lý, không quá dày, không mất tảo, giữ ổn định hệ sinh thái ao nuôi, bổ sung vi khuẩn có lợi, hạn chế sự phát triển của các virus, vi khuẩn gây bệnh cho tôm nuôi, cho ăn thức ăn bổ sung E.M Trùn ngày 1 – 2 lần vào bữa ăn chính nhằm tăng sức đề kháng cho tôm, phòng trừ bệnh hại, liều lượng và cách làm: Dùng 1 kg dịch trùn + 2 – 3 lít E.M thứ cấp trộn đều với 50 – 60 kg thức ăn để 20 – 30 phút cho khô sau đó cho tôm ăn.

Mục đích: Khi cho E.M vào ao nuôi, do có sẵn lượng vi khuẩn có lợi của phân trùn, dịch trùn: Vi khuẩn cố định đạm, nitơ hóa, biến đổi lân, Bacillus spp…, E.M sẽ làm tăng hoạt tính của các vi khuẩn này lên nhiều lần, khống chế sự phát triển của các virus, vi khuẩn gây bệnh cho tôm nuôi, khử mùi hôi tầng đáy, các khí độc NH3, H2S … luôn ở mức thấp, môi trường ao nuôi trong sạch, tôm khỏe mạnh, ăn nhanh hết thức ăn, chóng lớn, hiệu quả. tag: máy sục khí nước thải

Đến nay, tuy vùng nuôi tôm bị bệnh dịch, nhưng 100% các ao thực hiện quy trình đều đạt hiệu quả cao, tôm nuôi khỏe mạnh, phát triển tốt, kết quả của một số hộ tiêu biểu như sau:

Hộ Ông Bà Trần Văn Tĩnh, nuôi tôm chân trắng trên diện tích 6.000 m2 tại thôn Đồng Bé xã Hòa Tâm huyện Đông Hòa, lãi được 200 triệu đồng sau vụ nuôi (số lượng giống thả 1.200.000 con, đạt sản lượng 14,50 tấn, cỡ tôm 80 con/kg, tỉ lệ sống 96,7 %, giá bán 57.000 đồng/kg, doanh thu 826,5 triệu đồng).

Hộ Ông Bà Nguyễn Trung San, nuôi tôm thẻ chân trắng tại xã Hòa Hiệp Bắc, huyện Đông Hòa, ao nuôi có diện tích 3.600 m2, lãi được 105 triệu đồng sau 3 tháng 3 ngày nuôi (sản lượng 6,70 tấn, cỡ tôm 70 con/kg, tỉ lệ sống 93,8 %, giá bán 57.000 đồng/kg, doanh thu 381,9 triệu đồng).

Trước kết quả đạt được, ông Trần Văn Tĩnh cho biết: Thực hiện quy trình nhận thấy tảo ổn định, tôm khỏe mạnh, nhanh lớn, hiệu quả, đã làm gia đình an tâm, tin tưởng vào hiệu quả của quá trình đầu tư thực hiện quy trình này so với các đầu tư sản xuất kinh doanh khác.

Ông Nguyễn Trung San người thành công trong nghề nuôi tôm nhiều năm liền nhận định: Bệnh dịch trên tôm nuôi hiện nay có nguyên nhân chính là môi trường mà nó đang sinh sống, việc phòng trị bằng hóa chất sẽ không hiệu quả mà việc gìn giữ môi trường ao nuôi cho trong sạch mới là biện pháp hàng đầu để nuôi tôm ổn định, hiệu quả. E.M Trùn chính là công nghệ tốt nhất để giải quyết yêu cầu này trong giai đoạn hiện nay, vì khi môi trường ao nuôi trong sạch, tôm rất khó bị nhiễm bệnh, khó bộc phát bệnh ngay cả trường hợp có mầm bệnh trong mô cơ của tôm nuôi.

Qua nhiều năm tổ chức thực hiện quy trình chúng tôi nhận thấy: Quy trình có tác dụng làm môi trường ao nuôi trong sạch, tạo ra được các vi khuẩn có lợi sống cộng sinh với nhau, ngăn chặn, khống chế sự phát triển của các virus, vi khuẩn gây bệnh cho tôm nuôi.

Nếu 100% các ao nuôi trong vùng đều thực hiện quy trình sẽ làm môi trường vùng nuôi trong sạch, quá trình nuôi trồng thủy sản sẽ phát triển, hiệu qủa, bền vững, đáp ứng được mong muốn từ nghìn đời nay của bà con. tag: sục khí đáy

Xử lý môi trường trong nuôi tôm

Đối với ao cũ thì nạo vét sạch lớp bùn đen của vụ trước chuyển xa khỏi ao, sau đó rửa sạch ao và bón vôi. Chú ý, đối với ao đất phèn tiềm tàng khi cải tạo đáy ao không phơi mắng tránh hiện tượng xì phèn. Tẩy rửa ao thật cẩn thận, loại bỏ các chất độc hại của vụ trước, sau đó bón vôi để nâng cao và ổn định độ pH trong đất. Đất có độ pH. tag: ong nano-tube

Cải tạo ao: Bơm nước, vệ sinh và xử lý ao hồ: – Bơm khô, hút cạn nước, nạo vét bùn đáy, san phẳng đáy ao, tạo mương. – Mương có thể dạng xương cá, dạng bao quanh ao, hoặc dạng chữ I.

– Đối với ao mới đào, sau khi xây dựng xong, cho nước vào rửa 2-3 lần, mỗi lần ngâm 2-3 ngày, quậy sục đáy ao và tháo nước ra. Sau khi tháo hết nước lần cuối thì rải vôi bột khắp đáy và bờ ao.

Bón vôi:

Đối với đất bình thường, pH từ 6-7 dùng 300-500 kg/ha, đất ít chua, pH 4,5 -6 dùng 600-1.000 kg/ha, đất chua nhiều pH 3 – 4,5 dùng 1.000 – 1.800 kg/ha. Sau khi rải vôi xong kiểm tra pH đất bằng pH nước tiến hành cày lật và phơi ao 10-15 ngày nắng liên tục.

Đối với ao cũ thì nạo vét sạch lớp bùn đen của vụ trước chuyển xa khỏi ao, sau đó rửa sạch ao và bón vôi. Chú ý, đối với ao đất phèn tiềm tàng khi cải tạo đáy ao không phơi mắng tránh hiện tượng xì phèn. Tẩy rửa ao thật cẩn thận, loại bỏ các chất độc hại của vụ trước, sau đó bón vôi để nâng cao và ổn định độ pH trong đất. Đất có độ pH

Phơi khô đáy trong vòng 10-15 ngày.

Diệt tạp:

Để loại bỏ các sinh vật gây hại cho tôm. Nước thải được lấy qua lưới lọc, để 2-3 ngày cho các loại trứng nở ra hết rồi tiến hành diệt tạp, có thể dùng rễ cây thuốc cá: 1,5 kg/100 m3 nước, hoặc các sản phẩm có hoạt chất Rotenol, Saponil… tag: máy sục khí nước thải

Xử lý nguồn nước:

Xử lý nguồn nước trong ao xử lý. Sau 7-10 ngày, tiến hành diệt cá tạp và xử lý mầm bệnh. Sau 1-2 ngày bơm nước đã xử lý vào ao nuôi và tiến hành gây màu. Khi thấy nước có màu đạt yêu cầu, tiến hành thả tôm.

Gây màu nước: Gây màu nước trong ao bằng cách bón phân, các loại phân thường dùng:

+ Phân vô cơ: urê (45:0:0): 2kg/1.000 m3 ; NPK (20:20:0): 2kg/1.000m3. Lưu ý, các loại phân bón vô cơ đều phải được hoà tan trong nước ngọt rồi tạt xuống ao vào lúc 9-10giờ sáng để kích thích tảo phát triển. Lượng phân trên chia ra bón trong nhiều ngày, lượng phân của ngày hôm sau bằng 50% ngày hôm trước để duy trì sự phát triển của sinh vật phù du.

+ Phân hữu cơ: phân gà, phân chim cút,… ù hoại với vôi bột 15 ngày trở lên, bón 3-5 kg cho 1.000 m2.

+ Hoặc dùng các chế phẩm có bán sẵn như: BOM-D, NT,…

+ Với những ao khó gây màu như vùng đất cát có thểv sủ dụng 0.2kg cám gạo: 0,2kg bột đậu nành rang chín: 1kg bột cá cho 1.000 m3 nước ao nuôi. Tất cả nấu lên hoà nước tạt đều xuống ao vào lúc 9-10 giờ sáng. Mỗi ngày làm một lần.

Khi thấy nước có màu vàng nâu, độ trong đạt 30 – 40 cm, kiểm tra các yếu tố môi trường đảm bảo thì thả tôm. tag: sục khí đáy

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/xu-ly-moi-truong-trong-nuoi-tom-11744.html

Khắc phục hiện tượng tôm lội kéo đàn

Dấu hiệu:

1. Những ao có màu nước đậm, độ trong thấp, hàm lượng oxy hòa tan ở tầng đáy thấp đã tạo ra khu vực yếm khí nên sinh ra nhiều khí độc như NH3, NO2… vì vậy làm cho tôm bơi lên tầng mặt lấy oxy và bơi thành từng đàn. tag: ong nano-tube

2. Những ao nước trong, nghèo dinh dưỡng có rong đáy và độ kiềm thấp kèm theo thời tiết nắng gắt kéo dài làm nhiệt độ môi trường nước tăng cao nên tôm bơi thành từng đàn xung quanh bờ vào lúc trời nắng gắt.

Nguyên nhân:

Sự thay đổi nhiệt độ môi trường, sự phân hủy các hợp chất hữu cơ sinh ra khí độc gây hại cho tôm, ao nghèo dinh dưỡng, rong đáy…tag: máy sục khí nước thải

Biện pháp khắc phục:

– Dùng YUCCA và mở máy quạt nước thường xuyên để cung cấp oxy cho tôm đồng thời hấp thụ các loại khí độc có trong ao, điều hòa nhiệt độ ở các tầng nước.

– Đối với những ao nước trong, nghèo dinh dưỡng thì phải gây tảo bằng các loại chế phẩm sinh học và bổ sung khoáng chất cung cấp dinh dưỡng cho ao nuôi (nếu trong ao có rong đáy thì diệt rong trước rồi tiến hành gây tảo).

– Đối với những ao có màu nước đậm, mật độ tảo dày và đáy dơ thì dùng vi sinh làm sạch môi trường nước. tag: sục khí đáy

– Kiểm tra và điều chỉnh các yếu tố môi trường: DO, pH, Kiềm…cho phù hợp.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/khac-phuc-hien-tuong-tom-loi-keo-dan-12148.html

Giải pháp giảm rủi ro cho người nuôi tôm ở bạc liêu

Thực tế cho thấy, hơn 10 năm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nghề nuôi tôm của tỉnh Bạc Liêu vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên, dịch bệnh trên tôm nuôi ngày càng phức tạp, nhất là vào thời điểm giao mùa và mùa khô, ban ngày thời tiết trở nên nắng gắt, tối trở lạnh, sự chênh lệch cao về nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm có thể lên tới 120C do vậy môi trường nước ao nuôi tôm thường không ổn định, các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm, oxy hòa tan luôn dao động, hiện tượng ao nuôi khó gây màu nước, tảo trong ao thay đổi thường xuyên. tag: ong nano-tube

Bên cạnh là áp lực nước mặn thay đổi theo mùa, vào mùa khô độ mặn thường rất cao, mực nước trong ao thấp do hiện tượng bốc hơi nước, mùa mưa thường độ mặn giảm đột ngột và lúc này là cơ hội thuận lợi cho nhiều loại bệnh phát triền và bùng phát.

Nhiều người nuôi tôm thừa nhận những năm trước 2010 nuôi tôm dễ, cũng có rủi ro nhưng ít và chủ yếu là gặp ở vụ nuôi trái vụ, 2 năm nay hầu như các tháng trong năm đều khó nuôi do môi trường ao nuôi luôn biến động, dịch bệnh phát sinh nhiều, giá các loại nguyên liệu đầu vào luôn tăng, giá sản phẩm không ổn định, có thời điểm xuống thấp làm người nuôi không có lãi.

Theo thống kê ngành nông nghiệp, chỉ tính trong năm 2011, tổng diện tích nuôi tôm bị thiệt hại là trên 23.000 ha, riêng diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh thiệt hại trên 10.000 ha, 9 tháng đầu năm 2012 diện tích tôm thiệt hại ở các mô hình nuôi là gần 14.000 ha, trong đó nuôi thâm canh, bán thâm canh có gần 6.000 ha thiệt hại, cao hơn 4.500 ha so với cùng kỳ năm 2010.

Có thể thấy nuôi tôm gần đây nổi lên 1 số vấn đề như sau:

– Năng suất tôm nuôi/ ha có xu hướng tăng so với các năm trước, nhưng sản lượng chung thấp hơn nhiều. Theo thống kê ngành nông nghiệp Bạc Liêu, sản lượng tôm nuôi 9 tháng 2011 là 38.463 tấn giảm 14.454 tấn so cùng kỳ 2010, 9 tháng 2012 là 44.718 tấn tăng so cùng kỳ 2011 nhưng giảm 8.199 tấn so cùng kỳ 2010.

– Giá tôm nguyên liệu 9 tháng đầu năm 2012 loại tôm sú 30 con/kg từ 125 ngàn đến 130 ngàn đồng/kg giảm 30% so cùng kỳ 2011, trong khi  giá các loại đầu tư đầu vào như thức ăn, xăng dầu, điện, kết hợp với sản lượng tôm không được cải thiện thì việc thua lỗ là không thể tránh khỏi. tag: máy sục khí nước thải

– Xu hướng chung của nuôi tôm hiện tại hiệu quả sản xuất chưa cao.

– Ảnh hưởng của các yếu tố nội tại như kỹ thuật nuôi còn yếu, thiếu đầu tư hợp lý, quá trình nuôi còn trông chờ nhiều vào may rủi.

– Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm cho thời tiết chuyển biến theo chiều hướng bất lợi làm môi trường nước ao nuôi luôn biến đổi theo chiều hướng xấu, một số loại bệnh mới xảy ra mà hiện nay chưa tìm ra nguyên nhân, người nuôi tôm gặp rất nhiều khó khăn trong quản lý môi trường ao nuôi, bên cạnh là chất lượng thức ăn, thuốc thú y thủy sản và con giống kém làm cho vụ nuôi không tránh khỏi rủi ro.

Trước diễn biến dịch bệnh trên tôm nuôi, thời gian qua các ngành chuyên môn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu đã có nhiều giải pháp tích cực tới người nông dân như: xác định lịch thời vụ nuôi cho từng mô hình, khuyến cáo nuôi thưa, cảnh báo thời tiết, dịch bệnh, ô nhiễm, tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo đầu bờ, tuyên truyền khuyến cáo nông dân nuôi tôm phát huy ý thức cộng đồng trong việc quản lý môi trường, áp dụng quy trình nuôi khép kín, sử dụng các chế phẩm sinh học để quản lý môi trường ao nuôi nhằm hạn chế thiệt hại do dịch bệnh lây lan, khuyến cáo người nuôi kiên quyết loại trừ các loại vật tư, con giống kém chất lượng, không nóng vội thả giống khi chưa chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, các yêu cầu cần thiết cho vụ nuôi.

Tuy nhiên, trước hạn chế về chất lượng nguồn nước, hệ thống thủy lợi còn chưa đồng bộ, chất lượng con giống và các loại vật tư như thức ăn, thuốc hóa chất, nhiên liệu chưa được cải thiện, tính cộng đồng vẫn chưa được giải quyết triệt để…nên tôm nuôi vẫn bị chết hàng loạt ở nhiều vùng.

Ông Huỳnh Quốc Khởi, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bạc Liêu chia sẻ: do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết chuyển biến ngày càng có chiều hướng xấu đã phát sinh nhiều yếu tố bất lợi, trong đó dịch bệnh trên tôm nuôi diễn biến khá phức tạp và điều lo lắng nhất hiện nay là vẫn còn nhiều nông dân chưa nắm vững kỹ thuật, còn nóng vội thả giống trong khi chưa thật sự chú ý tới việc cải tạo ao, quản lý môi trường nước ao nuôi và phòng trị bệnh cho tôm. Theo ông Khởi, để giảm thiểu những rủi ro, người nuôi tôm cần làm tốt một số vấn đề sau đây:

– Kiên quyết loại trừ các loại vật tư, con giống kém chất lượng.

– Tùy vào quy mô, điều kiện kinh tế từng hộ mà quyết định thả nuôi mật độ hợp lý.

– Không nóng vội thả giống, cần chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, móy móc, dụng cụ cần thiết trước khi thả nuôi.

– Chú trọng yếu tố con người (người nuôi tôm phải cẩn thận, gọn gàng, sạch sẽ, hiểu biết kỹ thuật và yêu nghề).

– Thường xuyên thăm ao để sớm phát hiện các hiện tượng khác thường, không để hiện tượng mất màu nước hoặc các yếu tố môi trường trong ao nuôi giao động, bằng cách luôn giữ mực nước ao nuôi tối thiểu 1,2 m, sử dụng các loại vôi Super Canxi, Dolomite, các loại khoáng, các loại vi sinh thật sự chất lượng để ổn định môi trường ao nuôi.

– Cần chăm sóc đúng cách không để thức ăn dư thừa, chỉ sử dụng khoảng 75 – 80% khẩu phần thức ăn đã định trong ngày, định kỳ 10 – 15 ngày nên xét nghiệm mẫu nước để sử dụng vi sinh đúng liều nhằm giảm chi phí và hạn chế được dịch bệnh.

– Không lạm dụng sử dụng các loại thuốc kháng sinh, hóa chất trong suốt quá trình nuôi.

– Khi có biểu hiện khác thường trong ao cần tìm hiểu nguyên nhân hoặc báo cho cán bộ kỹ thuật để được tư vấn, hướng dẫn xử lý kịp thời

– Ghi chép mọi hoạt động, diễn biến của ao nuôi trong quá trình nuôi vì đây là cơ sở cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, đánh giá chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm và nhất là căn cứ để đưa ra phác đồ phòng ngừa và xử lý kịp thời khi có sự cố xảy ra. tag: sục khí đáy

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-phap-giam-rui-ro-cho-nguoi-nuoi-tom-o-bac-lieu-12150.html

Để giảm CO2 trong ao nuôi tôm

Khi thở, vi sinh vật, tôm, cá và vi khuẩn thải ra CO2, sự thối rữa hiếu – yếm khí các chất cặn bã hữu cơ cũng sản sinh ra CO2 và CO2 tạm tồn tại trong nước dưới dạng HCO3. Ở dạng này CO2 trở thành độc khí. Nồng độ CO2 cho phép trong ao tôm, cá là 5mg/l. tag: ong nano-tube

Khi nồng độ CO2 trong nước cao (10-15mg/l) mà có một lượng Nitrit (NO2) cao, thì tôm, cá bị bệnh đông máu làm cho tôm, cá khó hô hấp. Trong trường hợp này chúng ta cần phải giảm lượng CO2 bằng cách xử lý Ca(OH)2. Xem xét tác dụng kép sau:

CO2 + Ca(OH)2 –> CaCO3 + H2O

CaCO3 + CO2 + H2O –> Ca(HCO3)2

Trong nghiên cứu thực tế chúng tôi thấy, để loại bỏ 1mg CO2/lít thì cần 0,84 mg Ca(OH)2. Vì sự hiện diện của CaCO3 trong nước làm nồng độ pH rất cao, các trại nuôi tôm thường dùng giấm công nghiệp hoặc rỉ đường để hạ nồng độ pH. Sở dĩ, người ta dùng giấm vì nghĩ, acid sẽ làm giảm độ pH và rỉ đường làm giảm CaCO3. tag: máy sục khí nước thải

Cách làm này là không có cơ sở. Cách làm của các nhà khoa học là thay thế Ca(OH)2 bằng Na2CO3, vì chất này hòa tan nhanh, tác dụng nhạy cảm với CO2.

Na2CO3 + CO2 + H2O –> 2NaHCO3

Dựa vào công thức này tính toán để loại bỏ 1mg CO2/lít thì cần 2,41mg Na2CO3.

Ví dụ: Khi đo thấy nồng độ CO2 trong ao là 23mg/l thì nồng độ này vượt quá ngưỡng cho phép đến 18mg/l. Nếu xử lý Ca(OH)2 thì cần dùng: 18mg/l x 0,84 mg Ca(OH)2 = 15,1mg/l. Tính nước ao chính xác là bao nhiêu lít, ta nhân lên. Xử lý với Na2CO3 trong cùng chỉ số quan trắc trên 18mg CO2 x 2,41mg Na2CO3 = 43,38mg/l.

Nếu trong ao, tảo dày đặc thay nước cũng không hết thì phải nghĩ đến phosphor cao. Lúc này nên dùng muối biển thay thế cho Na2CO3. Dùng vôi nguyên chất pha với nước ngọt để lắng cặn, bỏ muối biển vào với nồng độ 25-30% và tạt đều trên mặt ao. tag: sục khí đáy

Nếu ao 5000m vuông mặt nước dùng 100kg vôi; 500 kg muối. Tạt nhiều lượt. Lúc này dừng lo về độ mặn, vì lượng muối này không thể nâng độ mặn lên cao, nhất là vào mùa mưa.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/de-giam-co2-trong-ao-nuoi-tom-13365.html

Các dấu hiệu nhận biết bệnh tôm

Việc giám sát sức khỏe tôm hàng ngày và hiểu biết các dấu hiệu bệnh lý của tôm là khá quan trọng nhằm sớm phát hiện và phòng ngừa bệnh đạt hiệu quả cho người nuôi. Bài viết sau giới thiệu kinh nghiệm nhận biết các dấu hiệu tôm bệnh trong quá trình quan sát, giám sát hàng ngày. tag: ong nano-tube

1. Dấu hiệu chung

– Tôm có dấu hiệu bơi lờ đờ, hoạt động chậm chạp.

– Bơi gần mặt nước hoặc tấp mé ao, đặc biệt vào ban đêm và sáng sớm.

– Ăn kém khi kiểm tra thức ăn trong máng ăn hoặc đường ruột.

2. Dấu hiệu bên ngoài cơ thể

– Tôm chuyển màu hơi xanh da trời (có thể do nhiễm MBV)

– Thân hoặc các phụ bộ có màu đỏ (bệnh đỏ thân do virus GAV và bội nhiễm các virus khác hoặc do vi khuẩn)

– Vỏ tôm bị mềm (bệnh mềm vỏ)

– Vỏ tôm có màu hơi xanh lá cây và bị nhớt (có thể do nhiễm ký sinh trùng Protozoa)

– Thân tôm có màu trắng đục cơ (bệnh bông vải)

– Bên trong đầu hơi vàng và có mùi hôi khi bóc ra (bệnh virus đầu vàng)

– Vỏ có những đốm màu trắng (virus đốm trắng, hoặc virus IHHNV hoặc vi khuẩn)

– Các đốm đen trên vỏ (bệnh vi khuẩn). tag: máy sục khí nước thải

3. Dấu hiệu bên trong cơ thể

– Mang có màu đen hoặc nâu (Bệnh đen mang)

– Mang có các sợi nấm (bệnh nấm)

– Mang có màu hơi xanh lá cây (nhiễm ký sinh trùng Protozoa)

– Đường ruột trống rỗng, không có thức ăn (Nhiễm vi khuẩn Vibrio)

– Gan tụy có màu trắng và dơ bẩn (bệnh BNM)

Lưu ý: Các dấu hiệu trên dùng để dự đoán các loại bệnh – Cần phải lấy mẫu tôm đi xét nghiệm để biết chính xác tôm có nhiễm các loại bệnh theo dự đoán hay không – qua đó tích lũy thêm kinh nghiệm giám sát và phát hiện bệnh tôm. Liên hệ để tư vấn các loại thuốc phòng trị bệnh tôm. tag: sục khí đáy

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-dau-hieu-nhan-biet-benh-tom-11741.html

Quy trình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng sạch bệnh

Để tạo ra những con giống có chất lượng, phải tuân thủ một quy trình sản xuất hoàn chỉnh. Con Tôm trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc quy trình sản xuất giống TTCT của Công ty TNHH Uni-President Việt Nam. tag: ong nano-tube

Lưu trình xử lý nước

Nước biển được xử lý theo các bước sau:

Nước biển -> Ao lắng -> Lọc cát (lần 1) -> Hệ thống xử lý Ozone -> Hồ chứa tạm -> Lọc cát (lần 2) -> Lọc than hoạt tính.

Đối với nước nuôi ấu trùng nhỏ, nuôi tảo, sinh sản…, nước còn tiếp tục được lọc tuần hoàn (ít nhất là 24h) bằng hệ thống túi lọc 1 µm và than hoạt tính, bổ sung EDTA, nước sẽ được xử lý UV (tia cực tím) trước khi đưa vào sử dụng.

Nuôi vỗ tôm bố mẹ và cho sinh sản

Nguồn gốc tôm bố mẹ: Sử dụng tôm sạch bệnh SFP (Specific Pathogen Free), được nhập từ các công ty như: SIS, Kona, Global Gen, High Health.Chăm sóc và quản lý: Sử dụng thức ăn viên hoặc thức ăn tươi sống (mực, dời, hàu), bổ sung Vitamin A,D,E,B,C và các khoáng chất khác trộn vào thức ăn. Khẩu phần cho ăn 20-25% trọng lượng thân.Mật độ: Nuôi riêng biệt con đực, cái với mật độ 10-12 con/m2, thay nước 100%/ngày.Các yếu tố môi trường ổn định: pH từ 8-8,5; độ kiềm 96-120 ppm; độ mặn 28-34‰. tag: máy sục khí nước thải

Kỹ thuật cho đẻ Cắt mắt: Sau thời gian nuôi vỗ khoảng 30 ngày có thể tiến hành cắt mắt và cho sinh sản.Sinh sản: Chọn tôm cái thành thục và chuyển vào bể tôm đực cho giao vĩ. Sau khi tôm giao vĩ thành công (có 2 túi tinh đính ở thelycum), chuyển tôm mẹ vào bể đẻ. Tạo môi trường yên tĩnh cho bể đẻ.Ấp trứng: Sau khi tôm đẻ, tiến hành thu trứng và cho vào bể ấp. Mật độ ấp 5.000-8.000 trứng/lít. Nhiệt độ nước ấp 30-310C.Thu Nauplius: Dựa vào tính hướng quang, sử dụng ánh đèn để thu Nauplius. Trước khi Nauplius được chuyển vào bể ương nuôi, cần tắm qua dung dịch Iodine…

Quy trình ương nuôi ấu trùng Chuẩn bị bể nuôi: Trước và sau mỗi đợt sản xuất tiến hành vệ sinh tổng thể trại ương (môi trường xung quanh trại, nền trại, bể nuôi, hệ thống khí, dụng cụ…) bằng xà phòng, dung dịch Iodine…Các yếu tố môi trường trước khi thả Naupius – Trước khi thả Nauplius, bổ sung tảo tươi, chế phẩm vi sinh…

Chăm sóc và quản lý Mật độ nuôi: 180-220 Nauplius/l- Thức ăn, cách cho ăn: Tảo tươi Thalassiossira, thức ăn dạng lỏng, Artemia Nauplius, Atemia Biomass.Thức ăn tổng hợp (tùy vào từng giai đoạn ấu trùng mà ta phối trộn thức ăn cho phù hợp). Để tăng cường khả năng bắt mồi và sử dụng thức ăn có hiệu quả nên cho ăn 2 giờ/lần.- Quản lý chất lượng nước: Kiểm tra chất lượng ấu trùng qua kính hiển vi 2 lần/ngày; kiểm tra các yếu tố môi trường nước mỗi ngày; kiểm tra thức ăn dư thừa và sức khỏe ấu trùng trước mỗi lần cho ăn… tag: sục khí đáy

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-san-xuat-giong-tom-the-chan-trang-sach-benh-1-10483.html

Hiện tượng Ph thấp và biện pháp khắc phục

Trong nuôi trồng thủy sản, các thông số môi trường đóng vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển của các loài thuỷ sản và sực thành bại của vụ nuôi. Nói cách khác, thông số môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ sống, sinh trưởng, dinh dưỡng của vật nuôi. Các thông số môi trường được biết đến như độ pH (độ phèn), nhiệt độ, hàm lượng oxy, độ cứng, độ kềm…trong đó thông số độ phèn và sự biến động liên tục của thông số này, trực tiếp gây ra những đợt tress cho vật nuôi thủy sản.  tag: ong nano-tube

Ảnh hưởng rõ nét nhất là khi độ phèn tăng cao, làm nồng độ NH3 (khí Amoniac) trong nước tăng cao, trực tiếp gây độc cho tôm, cá nuôi. Khi độ phèn thấp, làm hàm lượng H2S (khí sulfuahydro) trong ao nuôi tăng cao, trực tiếp gây độc cho vật nuôi thủy sản. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đề cập đến hiện tượng pH thấp, những nguyên nhân, ảnh hưởng của hiện tượng này, và một số giải pháp khắc phục.

Độ phèn, hiểu rộng rãi hơn là biểu thị hàm lượng ion H+ (độ acid) trong môi trường nước ao nuôi thủy sản. Mức độ biểu thị dao động từ 0-14, trong đó ở mức độ phèn bằng 7 được gọi là trung tính, đa số các loài thủy sản đều sống và phát triển tốt ở nguồn nước có pH= 7 (trung tính). Nồng độ H+ biến thiên trong ao nuôi hình thành từ một số nguyên do: sự thủy phân Fe3+ và Al3+, từ quá trình oxy hóa hợp chất Fe (sắt), và S (lưu huỳnh), từ quá trình phân hủy hữu cơ trong ao do dư thừa chất dinh dưỡng, từ quá trình hô hấp của vi sinh vật…Nói cách khác, nguyên do pH thấp trong ao nuôi thủy sản vì hàm lượng H+ sinh ra quá nhiều, liên tục, với nồng độ tăng dần theo mức độ ô nhiễm của ao nuôi, theo sự phát triển, gia tăng mật độ nhanh của tảo. tag: máy sục khí nước thải

Khi pH thấp, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin (tế bào hồng cầu trong cơ thể các loài thủy sản), các bộ phận trên cơ thể như mang, da tiết ra nhiều nhớt, chất nhầy. Khi pH thấp, mang có hiện tượng sưng tấy, khả năng đề kháng trước bệnh tật của vật nuôi thủy sản trong ao giảm rõ rệt, khi đó nồng độ H2S sẽ tăng, độc và nguy hiểm hơn so với khi pH cao.

Như vậy, để giải quyết vấn đề nguồn nước có pH thấp trong ao nuôi thủy sản, có nhiều giải pháp khác nhau. Trước tiên, những ao thuộc vùng phèn không nên phơi ao quá khô dưới ánh nắng mặt trời. Ngoài giải pháp bón vôi và phơi ao, làm tăng độ thông thoáng, khoáng hóa lớp bùn đáy ao, có thể bón thêm phân. Trước khi lấy nước vào ao nuôi, dùng phân chuồng hoai, bón nơi đáy ao. Lượng phân chuồng dùng từ 25-30kg/100m2 đáy ao. Hoặc có thể dùng chế phẩm sinh học để cải thiện, nâng nồng độ pH ao nuôi lên. Cung cấp chế phẩm sinh học nhằm kích thích vi sinh vật có lợi phát triển gia tăng số lượng, chủng loại. Hạn chế tối đa tác hại do các vi sinh vật gây hại, các khí độc được tạo ra từ quá trình phân hủy hữu cơ.

Phân giải thức ăn, chất hữu cơ tích tụ đáy ao nuôi. Mục đích trực tiếp của chế phẩm sinh học nhằm duy trì chất lượng nước, đáy ao, nguồn nước ao nuôi được sạch hơn (chất lượng nước ao nuôi thủy sản phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn phân hủy, nhiệt độ, môi trường nước, hàm lượng oxy trong ao). Mục đích gián tiếp của chế phẩm sinh học nhằm hạn chế tác động của bệnh đốm trắng, đầu vàng đối với tôm sú, tôm thẻ chân trắgn, giảm nhu cầu thay nước ao nuôi, ổn định và duy trì sự phát triển của tảo, tăng sự phát triển phiêu sinh động, giảm thiểu sự biến động pH, ổn định chất lượng nước, giúp tôm, cá khỏe mạnh, phát triển nhanh, ít nhiễm bệnh.

Các loại chế phẩm hiện nay trên thị trường rất nhiều, tuy nhiên nên chọn loại chế phẩm sinh học có nguồn gốc là các vi sinh vật sống, được làm từ các chủng như Nitrobacteria, Nitrosomonas, Bacillus…hoặc chọn một số thương hiệu NBT-POND, EM,…

Ngoài ra có thể dùng các hạt trao đổi Ion để nâng pH lên, tuy nhiên trong ao nuôi tôm, do diện tích quá lớn, nếu dùng loại này, chi phí rất lớn, đội giá thành sản xuất lên cao, mô hình nuôi sẽ không thu được kết quả tốt về mặt kinh tế. tag: sục khí đáy

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/hien-tuong-ph-thap-va-bien-phap-khac-phuc-6317.html

Quy trình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng thâm canh – bán thâm canh

Dựa trên nền tảng quy trình nuôi tôm thâm canh – bán thâm canh (TC-BTC) mà các ban, ngành chuyên môn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo.  tag: ong nano-tube

Trên cơ sở trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất của các hộ nuôi thành công trong tình hình bệnh dịch của nhiều năm trước và trong năm 2011;

Để giúp người nuôi hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro do dịch bệnh Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bạc Liêu khuyến cáo quy trình nuôi tôm TC-BTC đang áp dụng thành công cho đối tượng tôm sú, tôm thẻ chân trắng như sau:

1.Cải tạo ao: 

1.1 Xử lý đáy ao: Sau mỗi vụ nuôi, cải tạo lại ao đầm nhằm loại bỏ các chất thải tồn lưu ra khu vực ao chứa chất thải, gia cố mái bờ xử lý triệt để rò rỉ. Đối với những ao nuôi trước đây có sử dụng các loại hoá chất, thuốc trừ sâu, hoặc nuôi nhiều vụ liên tục, nên cày xới đáy ao, phơi khô, sau đó lọc nước ngâm đáy ao khoảng 3 – 5 ngày hút nước ra ngoài và phơi đáy cho đến khô nứt nẻ. Kiểm tra pH đáy ao, nếu pH> 6 bón vôi CaO hay CaCO3  từ 70 – 100 kg/ 1000 m2, nếu pH

Chú ý: Không nên san ủi đáy ao quá sâu (> 1,8 m) dễ dẫn đến ao nuôi có độ pH thấp do gặp tầng sinh phèn, tôm nuôi chậm lớn do khó lột xác.

1.2 Lọc nước: Cấp nước vào ao lắng rồi chuyển qua đầy ao nuôi bằng máy bơm hoặc cống. Cần có túi lọc bằng vải kate để hạn chế tối đa tôm, cá tạp xâm nhập vào ao.

– Tránh lấy nước trong các trường hợp sau:

+ Nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh.

+ Nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm.

+ Nước có nhiều váng bọt, màng nhầy, nhiều phù sa đen lơ lững.

+ Không lấy nước khi thủy triều đang lên. (Nên lấy nước bắt đầu bình để hạn chế các chất phù sa lơ lững vào ao).

– Nên lấy nước vào ao nuôi qua hệ thống ao lắng, ao chứa vì:

+ Nước ở đây đã được lắng lọc phù sa và các loại rong tảo tạp, cá tạp.

+ Nguồn nước lưu giữ trong ao lắng, ao chứa được lấy vào trước đó 10 – 15 ngày, các mầm bệnh tiềm ẩn trong môi trường sẽ giảm do không tìm được ký chủ trung gian.

1.3 Xử lý nước: Sau khi lấy đủ mực nước trong ao, để ổn định 2 – 3 ngày. Những hộ diện tích ít không có hệ thống ao lắng, ao chứa cần để ổn định nước trong ao 10 – 20 ngày) tiến hành diệt giáp xác bằng sản phẩm chuyên dùng trong nuôi thủy sản (không chứa các chất cấm sử dụng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Sau 1 – 3 ngày chạy quạt đều, trung bình ngày 4 – 6 giờ để kích thích cho trứng, ấu trùng cá tạp có trong nước nở hết và tiến hành diệt tạp, sử dụng Saponin 15 – 20 kg/1.000 m3 nước. Sau 3 – 5 ngày tiến hành diệt khuẩn, sản phẩm được sử dụng nhiều là Iodine, Virkon,  Finishnano…(sử dụng lúc 8 giờ hoặc 16 giờ).

1.4 Gây màu nước: Thực hiện gây màu nước sau khi đã diệt khuẩn từ 3 – 7 ngày. Đây là khâu quan trọng nhằm tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Gây màu tốt giúp ổn định môi trường nước, hạn chế được tôm bị sốc giúp tăng tỉ lệ sống: sử dụng vôi Dolomite hoặc CaCO3: 15 – 20 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng phân gây màu chuyên dùng như TA-ALGAUP: 20 kg/1.000 m3, hoặc sử dụng phân vô cơ NPK, DAP (2 – 3 kg/1.000 m3) hoặc sử dụng theo phương pháp truyền thống: sử dụng cám gạo, bột đậu nành nấu chín, ủ chua (2 – 3 kg/1.000 m3) sử dụng liên tục 3 – 5 ngày. Kiểm tra độ trong khi đạt 30 – 40 cm thì tiến hành cấy vi sinh.

Mục đích cấy vi sinh là để phân hủy các cặn hữu cơ lơ lững, các xác tảo chết tích tụ do dùng hóa chất diệt khuẩn trước đó, đồng thời tạo nguồn vi khuẩn có lợi giúp môi trường ao nuôi ổn định, tạo điều kiện cho tôm nuôi phát triển tốt ngay từ đầu. Tiến hành kiểm tra lại các yếu tố môi trường nếu nằm trong ngưỡng thích hợp: pH: 7,5 – 8,5 dao động trong ngày không quá 0,5: độ kiềm ≥ 70, độ mặn < 30 ‰, các chỉ tiêu H2S, NH3…= 0 thì tiến hành thả giống. tag: máy sục khí nước thải 

2. Phương pháp chọn và thả giống:

2.1 Chọn giống

Tôm giống tốt sẽ cho tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt. Cần áp dụng các bước sau:

a. Chọn bằng cảm quan qua các đặc điểm như:

Kích cỡ, màu sáng, sắc tố thể hiện rõ, đôi râu khép lại, các đốt bụng thon, dài, cơ bụng căng đầy, thịt đầy vỏ, đầu và thân cân đối. Tôm bơi ngược dòng nước, bám vào thành bể tốt. Phản xạ tốt khi gõ vào dụng cụ chứa. Phụ bộ tôm hoàn chỉnh, không có ký sinh trùng bám. Đường ruột đầy thức ăn. Không bệnh phát sáng.

b. Sốc formol: trước khi xét nghiệm nên sốc formol 70 – 100 ppm, thời gian 30 phút, hoặc sốc độ mặn bằng cách giảm đột ngột độ mặn xuống 50%, nếu tỉ lệ chết < 10% là đạt yêu cầu.

c. Chọn qua xét nghiệm để phát hiện, loại bỏ mẫu tôm yếu, nhiễm virus đốm trắng, đầu vàng,  MBV…

2.2 Thả giống

Kích thước tôm giống thả: đối với tôm sú tốt nhất là thả giống khi đạt kích cỡ Post 12 -15. Đối với tôm thẻ chân trắng tốt nhất là Post 10 – 12.

Mật độ thả: Tùy vào điều kiện kinh tế, mức đầu tư và kỹ thuật của từng hộ, đối với tôm sú nên thả từ 10 – 20 con/m2; tôm thẻ chân trắng từ 50 – 100 con/m2.

Thả giống đúng kỹ thuật cũng góp phần tăng tỷ lệ sống của đàn tôm. Trước khi thả giống nên ngâm các bọc chứa tôm giống trong nước ao khoảng 15 phút để cân bằng nhiệt độ giữa nước trong  bọc chứa tôm giống và nước ao nuôi. Thả tôm vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát là tốt nhất.

3. Chăm sóc và quản lý:

 3.1 Chăm sóc: Hiệu quả kinh tế phụ thuộc rât nhiều vào thức ăn, cách cho ăn, sử dụng thuốc thú y thủy sản phòng ngừa bệnh, các chất khoáng vi lượng… Cần cho tôm ăn bằng thức ăn công nghiệp (CN) ngay sau khi thả giống, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, số lượng, cỡ mồi phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

– Tháng nuôi thứ 1: Ngày đầu tiên cho ăn 1,2 – 1,5 kg/100.000 con giống, cứ 2 ngày tăng 200 gam/100.000 con giống, 15 ngày sau khi thả giống đến khi thu hoạch sử dụng các sản phẩm thuốc thú y thủy sản có chức năng phòng ngừa các bệnh đường tiêu hóa, bệnh gan và cung cấp các Vitamin, các khoáng cần thiết giúp tôm tăng cường sức đề kháng (mỗi loại 5 – 10 gam/kg thức ăn). Các sản phẩm này sau khi phối trộn được bao bọc bằng 1 trong các loại chất kết dính: dầu mực, dầu cá hoặc các sản phẩm thương mại có tính năng kết dính khác, lượng dùng 15 – 20 gam/kg thức ăn.

– Tháng nuôi thứ 2 đến thu hoạch: điều chỉnh thức ăn trong ngày thông qua sàn ăn, chú ý những ngày mưa hoặc nắng gắt chỉ sử dụng 70 – 80% lượng thức ăn đã định, tránh hiện tượng thức ăn dư thừa làm ô nhiễm môi trường ao nuôi, tôm dễ phát sinh bệnh. Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, đảm bảo chu kỳ nuôi hệ số thức ăn dao động 1,3 – 1,6.

3.2 Quản lý: Khi nuôi tôm ở mật độ dày, nhất là trong nuôi tôm thẻ chân trắng thì tất cả hệ thống sinh thái của môi trường nước đều thay đổi hoàn toàn so với những điều kiện tôm sống ngoài tự nhiên. Rất nhiều diễn biến phức tạp và sự cố xảy ra hàng giờ, hàng ngày. Dùng vi sinh đúng liều lượng sẽ giúp cân bằng hệ sinh thái, kích thích vi sinh vật có lợi lấn át vi sinh vật có hại gây bệnh cho tôm, tiết kiệm chi phí và ao nuôi luôn ổn định, an toàn trong suốt quá trình nuôi.

– Trong tháng nuôi 1: Chú ý gây và giữ màu nước ao nuôi, tránh trường hợp nước ao trong kéo dài sinh tảo đáy (laplap) hoặc tảo phát triển quá mức gây hiện tượng thiếu oxy về sáng, có thể gây ra hiện tượng tôm đóng rong. Định kỳ 10 – 15 ngày sử dụng vi sinh 1 lần.

– Tháng nuôi thứ 2 đến khi thu hoạch: Tôm lớn nhu cầu oxy cao nên nhất thiết không để tảo phát triển nhiều trong ao. Trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 90% các ao nuôi tôm  TC-BTC đều có độ kiềm thấp < 80 ppm, đây là yếu tố quan trọng tác động đến chu kỳ lột xác và sự phát triển của tôm nuôi. Vì vậy, định kỳ hoặc khi thấy tảo trong ao phát triển mạnh hoặc màu nước thay đổi, độ kiềm thấp…dùng vôi CaCO3 10 – 20 kg/1.000 m3 hoặc sử dụng khoáng tạt No79: 1 kg/1.000 m3, sử dụng lúc 20 – 21 giờ tối, trưa hôm sau cấy vi sinh (sản phẩm chất lượng, có uy tín, thương hiệu) nhằm phân hủy các chất thải, xác tảo, mùn hữu cơ đáy ao, tạo nên môi trường trong sạch, pH, độ kiềm ổn định giúp tôm phát triển tốt.

– Hệ thống quạt nước, hỗ trợ oxy trong ao nuôi TC-BTC là không thể thiếu, nhất là đối với nuôi tôm thẻ chân trắng. Tùy diện tích ao, mật độ nuôi mà bố trí hệ thống này cho hợp lý. Trong quá trình nuôi đặc biệt chú ý vào thời điểm 19 – 21 giờ oxy trong nước ao giảm dần và 01 – 05 giờ sáng, là thời điểm oxy thấp nhất, nhất là vào những ngày thời tiết thay đổi nắng – mưa,…nên rất cần phải vận hành hệ thống này với tốc độ trung bình 80 – 90 vòng/phút.

– Trang thiết bị dụng cụ cần sử dụng riêng biệt, vệ sinh cá nhân, dụng cụ trước và sau khi sử dụng.

3.3 Những sự cố thường gặp

Khi trong ao nuôi tôm có biểu hiện: Mòn đuôi, đen mang, đứt các phụ bộ, sắc tố xấu, phát sáng hoặc màu nước có biểu hiện khác thường…là các bệnh do vi khuẩn, môi trường gây ra, Cần sử dụng vôi CaCO3 lượng dùng 20 – 30 kg/1.000 m3, hoặc khoáng tạt 1 kg/1.000 m3 sử dụng buổi tối trưa hôm sau cấy vi sinh (loại chất lượng và có uy tín trên thị trường) liều dùng gấp 2 – 3 lần so với dùng định kỳ, sử dụng liên tục trong 2 – 3 ngày. Trong ao xuất hiện tảo lam, tảo đỏ, laplap đáy dùng các loại sản phẩm có chức năng diệt tảo (khi sử dụng cần chuẩn bị sẵn oxy bột đề phòng khi có hiện tượng tôm nổi đầu), sau 2 – 3 ngày cấy vi sinh.

Trong trường hợp tôm nuôi bị nhiễm các bệnh do virus, đối với tôm lớn cần thu hoạch ngay, tôm nhỏ cần xử lý (diệt bỏ) tại ao, có biện pháp cách ly đối với các ao còn lại như là dùng lưới rào ngăn cua còng từ ao nhiễm bệnh bò sang, sát trùng bờ ao bằng vôi CaO hoặc CaCO3 20- 30 kg/100 m2 bờ…sau khi diệt bỏ tối thiểu 7 ngày mới xả ra ngoài môi trường.

Chú ý: Tất cả các loại vi sinh đều sử dụng vào thời điểm có nắng hoặc nếu thời tiết lạnh, mưa, cần sục khí để nhân sinh khối tăng tính hiệu quả.. Không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào để cắt tảo hay kích thích tôm lột hoặc sử dụng kháng sinh trong quá  trình nuôi khi tôm đang phát triển bình thường để tránh có những sự cố đáng tiếc xảy ra như  là  tôm nổi đầu do sử dụng hóa chất làm ao mất tảo hay tôm “óp” do kích lột nhiều lần khi chưa tới chu kỳ lột, tôm chậm lớn do lạm dụng kháng sinh… tag: sục khí đáy

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-nuoi-tom-su-tom-the-chan-trang-tham-canh-ban-tham-canh-4112.html