Tag Archives: bệnh còi

Nhu cầu dinh dưỡng cho tôm thẻ chân trắng

Qua khảo sát về hàm lượng dinh dưỡng trong các loại thức ăn công nghiệp nuôi tôm tại Ấn Độ, nhóm nghiên cứu đã tìm ra được nhu cầu dinh dưỡng cần thiết với tôm thẻ chân trắng cũng như xu hướng sản xuất thức ăn hiện nay. tag: máy thổi khí at

Nhu cầu dinh dưỡng cho tôm thẻ chân trắng

Axit amino của 8 mẫu thức ăn thể hiện ở các màu khác nhau 

Phân tích

Nhóm nghiên cứu đã lấy 8 mẫu thức ăn của 8 thương hiệu nổi tiếng để phân tích nhu cầu chất dinh dưỡng cần thiết cho tôm như axit amio, phospholipid, cholesterol, n-3, và aixt béo không bão hòa.

Từ năm 2013, Nutriad đã nghiên cứu thành phần thức ăn công nghiệp cho tôm tại Ấn Độ. Nghiên cứu mới nhất (năm 2016) đã giới hạn mẫu thức ăn viên với kích thước 3P. Thức ăn viên 3P có các chỉ tiêu dinh dưỡng như sau: Protein thô (35 – 36%); béo thô (4,5 – 6%), tro thô (<13%) và xơ thô (2 – 5%). Những mẫu thức ăn này đều được sản xuất trong quý II/2016 và bảo quản trong điều kiện phòng thí nghiệm trước khi phân tích.

Protein thô được phân tích bằng phương pháp Kjedahl; chất béo thô được phân tích phương pháp Soxhlet; axit béo bằng phương pháp sắc ký khí dựa theo ly trích chất béo; cholesterol sử dụng phương pháp hóa xà phòng trực tiếp; phospholipids phân tích bằng phương pháp quang phổ 31P-NMR và phân tích axit amino và nitrogen được thực hiện bởi Evonik Degussa GmbH.

Protein thô và chất béo

Hàm lượng protein thô dao động 33,9 – 40,7%, trung bình 36,4 + 2,3%. 5 trong 8 mẫu thức ăn có thành phần protein cao hơn mức tối thiểu trên nhãn sản phẩm là 35%. Tính trung bình, các mẫu thức ăn đều có hàm lượng protein cao hơn thông số ghi trên nhãn là 4%.

Chỉ tiêu chất béo sẽ khác nhau giữa các hãng sản xuất thức ăn khác nhau, dao động 4,5 – 6%, mức phổ biến nhất là trên 5%. Tất cả thức ăn được phân tích đều có hàm lượng chất béo cao hơn 5%, đạt mức trung bình 6,18 + 0,54%, vượt 25% so chỉ tiêu ghi trên nhãn sản phẩm. Không có mối tương quan rõ nét giữa hàm lượng protein thô và béo thô cho thấy sự thiếu nhất quán giữa các chuyên gia dinh dưỡng về tầm quan trọng của tỷ lệ protein/chất béo trong khẩu phần ăn cho tôm.

Axit amino

Nhu cầu dinh dưỡng axit amino trong tôm khá phức tạp do tác động từ tính thấm của axit amino trước khi tiêu hóa. Những kiến thức hiện nay về nhu cầu axit amino trong tôm thẻ chân trắng vẫn rất hạn chế do còn thiếu nhiều nghiên cứu khoa học.

Trong khảo sát nói trên, hàm lượng lysine trung bình là 2,11 + 0,17% và methinonine 0,63 + 0,09%.  Hàm lượng axit arginine và axit amino trung bình là 2,41 + 0,12%.

Phospholipids, n-3 HUFA, cholesterol

5 trong 8 mẫu thức ăn có chứa 5 g/kg n-3 HUFA, trong khi hàm lượng béo thô dao động 5,8 – 7,1 g/kg (trung bình 6,18 + 0,54%); một mẫu thức ăn có chứa hơn 7 g/kg n-3 HUFA và 2 mẫu thức ăn còn lại có hàm lượng n-3 HUFA dưới 3 g/kg.

Khảo sát cho thấy nhu cầu cholesterol dao động 0,5 – 5 g/kg với tôm thẻ chân trắng. Trước đó, Duerr và Waldh (1996) chỉ ra hàm lượng cholesterol dưới 1 g/kg sẽ giới hạn tăng trưởng của tôm thẻ; Morris et al (2001) lại báo cáo nhu cầu cholesterol với tôm thẻ ở pha tăng trưởng dao động 0,76 – 1,1 g/kg. Một phân tích thống kê khác lại chỉ ra lượng cholesterol cần thiết để đảm bảo tăng trưởng tối ưu ở tôm thẻ phải là 1,5 g/kg. Gong et al. (2000) đã ước tính lượng cholesterol cần cho tôm thẻ là 3,5 g/kg trong trường hợp không bổ sung phospholipids. Với tỷ lệ 1,5 – 3% phospholipids, nhu cầu cholesterol đã giảm xuống lần lượt là 1,4 và 1,3 g/kg.

Lượng cholesterol trong những mẫu thức ăn được phân tích đều dưới 1 g/kg. 6 mẫu thức ăn chăn nuôi lượng cholesterol trung bình 0,64 g/kg + 0,16; 1 mẫu chứa 0,7 + 0,8 g/kg và một mẫu còn lại chứa 0,34 g/kg cholesterol.

Khảo sát cho thấy, thức ăn cho tôm thẻ bắt buộc phải bổ sung phospholipid mới đảm bảo tăng trưởng tối ưu cho vật nuôi. Ngoài ra, bổ sung 1,5% phosphatidyl choline (PC) từ 95% nguồn đậu nành tinh khiết, 94% trứng gà tinh khiết hoặc lecithin đậu nành (23% PC) cũng giúp tôm thẻ tăng trưởng tốt hơn hẳn chế độ ăn không bổ sung PC (Coutteau et al.1996). Hàm lượng khuyến nghị với phospholipids từ các nguồn đậu nành dao động 1,25 – 6,5%, tùy loại tôm nuôi, pha nuôi cũng như độ tinh khiết của lecithin. Hàm lượng trung bình của phospholipids trong khảo sát nói trên là 1,74% + 0,43 (min 1,13% – max 2,5%).

Xu hướng dinh dưỡng

Nếu so sánh với khảo sát tương tự năm 2014 có thể thấy nhu cầu protein thô trung bình đã tăng từ 35,8% tới 36,4%; hàm lượng chất béo thô vẫn ổn định 6,2%; hàm lượng n-3 HUFA và cholesterol lần lượt giảm 16% và 24%; trong khi lượng phospholipids tiêu thụ trung bình tăng 38%.

Dễ thấy, nhu cầu cholesterol và n-3 HUFA giảm chủ yếu do xu hướng thay thế dầu cá, bột cá bằng các loại đạm thực vật ngày càng phổ biến; bù lại, hàm lượng phospholipids và protein thô lại tăng. Tuy vậy, giảm lượng chất béo cần thiết như cholesterol, phospholipids và n-3 HUFA trong thức ăn hiện nay đã ảnh hưởng đáng kể tới tăng trưởng, tỷ lệ biến đổi thức ăn và hiệu quả protein trong tôm thẻ chân trắng. Những xu hướng này lại thúc đẩy việc sử dụng các loại phụ gia cải thiện khả năng tiêu hóa như muối mật. Ngoài ra, muối mật còn tạo ra chất thay thế hợp chất hữu cơ steroid mà tôm không tự tổng hợp được. Bổ sung muối mật vào khẩu phần ăn lipids thấp đã phục hồi khả năng tăng trưởng của tôm về mức tương tự như chế độ ăn chứa các chất béo thiết yếu. Nhờ đó, các công ty dinh dưỡng vẫn có thể tạo ra công thức thức ăn với chi phí tiết kiệm hơn nhờ cắt giảm phospholipids, cholesterol và n-3 HUFA mà không ảnh hưởng tới tăng trưởng của tôm.

> Mẫu thức ăn được phân tích có lượng dưỡng chất trung bình: 36,4 + 2,3% protein thô; 6,28 + 0,86% béo thô; 2,11 + 0,17% lysine; 0,36 + 0,09% methionine; 2,41 + 0,12% arginine; 4,42 g/kg + 1,74 g/kg n-3 HUFA; 0,64 + 0,16 g/kg cholesterol; 1,74 + 0,43% phospholipids. Xu hướng chung trong ngành dinh dưỡng từ giữa năm 2014 tới nay là sản xuất thức ăn chứa cholesterol và n-3 HUFA thấp hơn nhờ sử dụng các loại nguyên liệu có nguồn gốc thực vật thay thế động vật.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhu-cau-dinh-duong-cho-tom-the-chan-trang-59a61c6ce49519f6598b456c.html

Bệnh Còi

1. Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh MBV (Monodon Baculovirus) là virus type A  Baculovirus monodon, cấu trúc nhân (acid nucleoic) là ds ADN, có lớp vỏ bao, dạng hình que. Theo  J.Mari và CTV, 1993 thì chủng MBV của tôm sú từ ấn Độ Thái Bình Dương có kích thước nhân 42 ± 3 x 246 ± 15 nm, kích thước vỏ bao 75 ± 4 x 324 ± 33 nm. Chủng PMV của tôm (P.plebejus, P. monodon, P. merguiensis) từ úc có kích thước nhân 45-52 x 260-300 nm, kích thước vỏ bao 60 x 420 nm. tag: máy thổi khí at

Bệnh Còi

Virus ký sinh ở tế bào biểu mô hình ống gan tuỵ (Hepatopancreas) và tế bào biểu bì phía trước ruột giữa, virus tái sản xuất bên trong nhân tế bào vật nuôi, bao gồm các giai đoạn sau:

– Giai đoạn O (tiềm ẩn): Sau khi tế bào nhiễm MBV là giai đoạn sớm của tế bào chất biến đổi.

– Giai đoạn 1: Nhân tế bào sưng nhẹ, các nhiễm sắc thể tan ra và di chuyển ra sát màng nhân. Tế bào chất mất dần chức năng của chúng và hình thành giọt mỡ. Virus bắt đầu gây ảnh hưởng.

– Giai đoạn 2: Nhân sưng nhanh, số lượng virus tăng nhanh, xuất hiện thể ẩn (Occlusion bodies) trong nhân (hình 32).- Giai đoạn 3: tế bào bị bệnh, nhân tăng lên gấp 2 lần, đường kính bình thường và tăng 6 lần về thể tích. bên trong nhân có 1 đến nhiều thể ẩn (hình 37), trong thể ẩn chứa đầy các virus. Các virus phá huỷ các tế bào ký chủ, tiếp tục di chuyển sang tế bào khác hoặc theo chất bài tiết ra ngoài môi trường, tạo thành virus tự do tồn tại trong bùn và nước.

2. Dấu hiệu bệnh lý

Khi tôm mới nhiễm virus MBV, dấu hiệu bệnh không biểu hiện rõ ràng. Khi tôm nhiễm bệnh nặng và phát bệnh thường có biểu hiện một số dấu hiệu sau:

– Tôm có màu tối hoặc xanh tái, xanh xẫm. Tôm kém ăn, hoạt động yếu và sinh trưởng chậm (chậm lớn).

– Các phần phụ và vỏ kitin có hiện tượng hoại tử, có nhiều sinh vật bám (ký sinh trùng đơn bào, tảo bám và vi khuẩn dạng sợi).

– Gan tuỵ teo lại có màu trắng hơi vàng, thối rất nhanh.

– Tỷ lệ chết dồn tích, cao tới 70% hoặc có thể tôm chết hầu hết trong ao.

3. Phân bố và lan truyền bệnh

Bệnh MBV được phát hiện đầu tiên năm 1980 ỏ đàn tôm sú (Penaues monodon) đưa từ Đài Loan đến nuôi ở Mehico (Lightner và CTV, 1981, 1983). Tiếp theo các nhà nghiên cứu đã phát hiện bệnh MBV có xuất phát từ Đài Loan, Philippines, Malaysia, Polynesia thuộc Pháp, Singapore, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc…ở Đài Loan bệnh MBV có liên quan đến thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi tôm sú năm 1987 và 1988 (Chen và CTV, 1989). Cho đến nay người ta biết bệnh MBV phân bố rất rộng rãi: châu á, Thái Bình Dương, châu Phi, miền Nam châu Âu, châu Mỹ. Tôm sú (P. monodon) thường xuyên nhiễm bệnh MBV và một số tôm khác cũng nhiễm bệnh MBV: P. merguiensis, P. semisulcatus, P. kerathurus, P. plebejus, P. indicus, P. penicillatus, P. esculentus, P. vannamei (có khả năng). Virus MBV nhiễm từ Post-larvae đến tôm trưởng thành.

Bệnh MBV lan truyền theo phương nằm ngang, không truyền bệnh theo phương thẳng đứng.

Ở Việt Nam tháng 10-11/1994 Bùi Quang Tề lần đầu tiên đã nghiên cứu về mức độ nhiễm bệnh MBV trên tôm sú nuôi các tỉnh ven biển phía nam: Tôm sú nuôi nhiễm virus MBV khá cao: Tôm thịt ở Minh hải: 50-85,7%, ở Sóc Trăng 92,8%; Tôm giống ở Bà Rịa-Vũng Tàu 5,5-31,6%, tôm giống Nha Trang 70-100%. Bệnh MBV là một trong những nguyên nhân gây chết tôm ở các Tỉnh phía nam năm 1993-1994.

Tiếp theo Đỗ Thị Hoà từ tháng 11/1994-7/1995 cũng đã nghiên cứu bệnh MBV trên tôm sú nuôi ở các tỉnh Nam Trung Bộ, kết quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm virus MBV ở ấu trùng tôm sú là 33,8%, tôm giống là 52,5%, tôm thịt là 66,5%. Năm 1995 sơ bộ điều tra bệnh tôm sú nuôi ở các tỉnh phía Bắc đã nhiễm mầm bệnh MBV ở các tỉnh: Nghệ An, Thanh Hoá, Hải Phòng.

Vì những tỉnh này đều lấy tôm giống từ Nha Trang ra nuôi (Bùi Quang tề và CTV, 1997). Đến nay kiểm tra tôm post sản xuất từ miền Bắc ở Quảng Ninh đến các tỉnh phía Nam ở Cà Mau hầu hết chúng đều nhiễm mầm bệnh MBV, ở mức độ khác nhau. Bệnh MBV không làm tôm chết hàng loạt, nhưng làm tôm chậm lớn và chết rải rác. Khi thu hoạch tỷ lệ tôm sống rất thấp đây là vấn đề nan giải của nghề nuôi tôm biển ở các tỉnh ven biển.

 4. Chẩn đoán bệnh

Để chẩn đoán bệnh MBV và bệnh virus ở tôm he nói chung, chúng ta phải kiểm tra nhiều yếu tố: Quá trình nuôi tôm, dấu hiệu bệnh lý, mô bệnh học, dựa trên nguyên tắc sau:

– Thu mẫu bệnh soi qua kính hiển vi bằng mẫu nhuộm tươi và mẫu cắt mô bệnh học hoặc soi qua kính hiển vi điện tử.

– Làm tăng sự nhiễm bệnh để kiểm tra mô bệnh học và soi qua kính hiển vi hoặc qua kính hiển vi điện tử.

– Thực nghiệm sinh học gây cảm nhiễm bệnh nhân tạo bằng các mẫu tôm đã nhiễm bệnh cho đàn tôm khoẻ mạnh. Sau đó theo dõi các dấu hiệu bệnh lý và kiểm tra mẫu nhuộm tươi và mô bệnh học.

5. Phòng bệnh

Phòng bệnh là chính:

+ Không dùng tôm giống có nhiễm mầm bệnh MBV.

+ Tẩy dọn ao, bể nuôi như phương pháp phòng chung.

+ Nuôi tôm đúng mùa vụ, quản lý chăm sóc tốt, cung cấp đầy đủ thức ăn về chất và lượng. Không để tôm sốc trong quá trình nuôi.

+ Kiểm dịch đàn tôm bố mẹ trước khi cho đẻ.

+ Xử lý nước bằng tầng ôzôn và các chất sát trùng BKC trước khi ấp trứng thì có thể sản xuất được đàn tôm Postlarvae không nhiễm virus MBV.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-coi-3155.html

Bệnh Phát Sáng

Bệnh phát sáng xuất hiện quanh năm trên các loài tôm sú, thẻ, càng xanh… Bệnh có thể xảy ra trong tất cả các giai đoạn ương nuôi từ trứng đến tôm trưởng thành.

Bệnh Phát Sáng

Bệnh phát triển mạnh trong môi trường nước giàu dinh dưỡng, nhiều chất hữu cơ ở độ mặn cao, thiếu oxy hòa tan, lây lan nhanh trong mùa nóng.

Triệu chứng:

Tôm yếu, bơi không định hướng, tấp mé bờ, phản ứng chậm chạpMang và thân tôm có màu sẫm, bẩn, thịt đục màu. Gan viêm và teo nhỏ, mất chức năng tiêu hóa cho tôm. tag: máy thổi khí at

Ăn giảm, không có thức ăn và phân trong ruột, phân tôm trong nhá ít.Đầu, thân tôm phát sáng màu trắng – xanh lục trong bóng tối.
Quan sát bằng kính hiển vi thấy vi khuẩn phát sáng di chuyển trong cơ, máu tôm.Có đốm sáng rất nhỏ và nhiều trên phần cơ thịt của tôm
Tôm chậm lớn, có thể bị đóng rong ở mang và vỏ.Tôm chết đáy rải rác tuỳ vào mức độ nặng nhẹ của bệnh. Nếu nhiễm bệnh 100% đàn tôm trong giai đoạn 45 ngày nuôi đầu, có thể chết hàng loạt.
Tôm ấu trùng nhiễm bệnh có màu trắng đục, nhiễm bệnh nạng thì lắng dưới đáy bể ương và chết hàng loạt.

Phương pháp chẩn đoán bệnh:

– Nhận biết triệu chứng bệnh.

– Thử nghiệm bằng TCBS Agar test kit (dùng môi trường thiosulfate citrate bile sucrose agar) để phát hiện vi khuẩn.

Nguyên nhân:

Nhiễm vi khuẩn thuộc nhóm Luminescencet Vibrio: chủ yếu và gây nguy hiểm nhất là Vibrio harveyi. Các vi khuẩn này có enzyme Luciferase gây ra sự phát sáng.Là vi khuẩn gram âm G, phát triển nhanh ở độ mặn 10-40ppt (mạnh nhất ở độ mặn 20-30 ppt).
Các vi khuẩn này có khả năng kháng lại nhiều loại kháng sinh.Bệnh có thể nhiễm từ các trại giống, ao ương sang ao thịt. Trong sản xuất giống, mầm bệnh được lây lan chủ yếu bằng đường ruột từ tôm mẹ sang ấu trùng trong giai đoạn sinh sản.

PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÍ BỆNH  

1. Trại giống

Vệ sinh kỹ lưỡng bình ấp trứng, bể ương.
Thường xuyên sát trùng dụng cụ.Xử lý nguồn nước bằng UV, chlorine, ozone
Xử lý trứng artemia bằng chlorine

2. Tôm giống

Chọn tôm bố mẹ khỏe, sạch bệnh.Kiểm tra bằng PCR
Kiểm tra sự căng thẳng và sức khỏe của giống, loại tôm yếu bằng formol,Thả nuôi với mật độ thả phù hợp

3.  Ao nuôi

Trước vụ nuôi phải cải tạo ao: nạo vét sạch bùn đáy, bón vôi, phơi ao
Diệt khuẩn trong ao và nước bằng Chlorine 30ppm hoặc B.K.C 1-2ppm hoặc thuốc tím KMnO4 2-3ppmDiệt các vật chủ trung gian, hạn chế cua, còng, ốc trong ao. Vớt hết tôm chết ra khỏi ao.
Dùng men vi sinh để cải tạo đáy ao và xử lý nước hằng ngày trước khi thả tôm 7 ngày.

4. Phòng bệnh:

Độ mặn:

Không nuôi tôm ở độ mặn quá cao. Hạ độ mặn để ức chế vi khuẩn phát sáng.Nhiệt độ nước:

Vào mùa hè, duy trì mức nước trong ao nuôi từ 1,2 – 1,5m và độ trong của nước từ 30 – 40cm để hạn chế khả năng tăng nhiệt.

Giữ môi trường ổn định:

Kiểm tra chất lượng nước (pH, kH, độ đục, màu sắc, tảo) và đáy ao thường xuyên để xử lý kịp thời.

Tăng cường chạy sục khí.

Sử dụng men vi sinh, đường cát, định kỳ.

Theo Việt Linh, cần giữ môi trường ổn định không để tảo tàn đồng loạt làm mất màu nước và bùn đáy. Phát triển nhóm tảo lục (chlorella) để khống chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio harveyi.

Giảm chất hữu cơ trong nước:

Kiểm tra sàng ăn hàng ngày, điều chỉnh thức ăn hợp lý, không để thừa thức ăn làm ô nhiễm nước và đáy ao.

Định kỳ thay nước, xiphông đáy, hút bùn, để giảm bớt chất hữu cơ trong ao.

Chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh cho tôm:

Bổ sung vitamin C, đa vitamin, men tiêu hóa và khoáng vi lượng vào thức ăn để tạo kháng thể, giúp tôm có sức đề kháng, giảm căng thẳng cho tôm nhất là khi có thay đổi môi trường nước hoặc biến động thời tiết.

Từ khi tôm được 21 ngày tuổi, định kỳ kiểm tra vibrio trong nước và tôm 7 ngày/lần. Vibrio trong nước phải ít hơn 102 tế bào/cc và không có vi khuẩn này trong gan tôm.

5. Xử lý khi tôm nhiễm bệnh

Dùng thuốc kháng sinh: dùng đúng loại thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian. Việc sử dụng kháng sinh chỉ có kết quả khi phát hiện bệnh sớm.
Bổ sung đa vitamin và men tiêu hóa vào thức ăn.Diệt khuẩn nước trong ao và khử trùng dụng cụ, thiết bị.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-phat-sang-3156.html