Monthly Archives: September 2019

Nuôi tôm bằng vi sinh tiết kiệm mà hiệu quả

Vậy sự lựa chọn men vi sinh nào là thích hợp? Theo thành phần hoặc theo hàm lượng, uy tín của nhà sản xuất, liều dùng mỗi lần và chi phí cả vụ, giá cả và dịch vụ tư vấn, qua kinh nghiệm truyền nhau, sản phẩm sản xuất trong nước hay là nhập khẩu? Câu trả lời sẽ là tất cả những quan tâm trên đây. tag: ong nano-tube

Giữa vô số các loại men vi sinh trên thị trường hiện nay, có lẽ người nuôi nên “tỉnh táo” để lựa chọn, đừng bị choáng ngợp bởi sản phẩm có đa dạng thành phần ở mức “số mũ to” hoặc liều sử dụng thấp, ngôn từ hoa mỹ về công dụng sản phẩm hay là giá cả thấp và chiết khấu cao.

Ưu tiên lựa chọn nên là kinh nghiệm truyền nhau, uy tín của nhà sản xuất / công ty phân phối và trên hết là trải nghiệm thực tế tại chính ao nuôi của mình.

Thực chất, có nhiều sản phẩm với thành phần và định lượng “khủng” nhưng khi xử lý tại ao không mấy tác dụng hoặc phải tăng liều gấp hai hoặc ba lần so với hướng dẫn sử dụng mà kết quả vẫn không như mong đợi

. Ngay cả khi đếm đủ định lượng vi khuẩn thì cũng chưa chắc là sản phẩm sẽ có hiệu quả trong môi trường ao nuôi thực tế vì phụ thuộc vào khả năng sống và phạm vi hoạt động / kiểm soát của từng loài / dòng vi sinh, lượng oxy, thông số lý hóa của đất và nước, tỉ lệ chất nền hữu cơ trong ao.

Bí quyết của một sản phẩm men vi sinh tốt sẽ ở kỹ thuật công nghệ nuôi cấy vi sinh của nhà sản xuất để đảm bảo các dòng vi khuẩn có lợi hoàn toàn tự nhiên, không biến đổi gien và chất lượng ổn định. Một số dòng vi khuẩn có lợi có khả năng kiểm soát tốt các thành phần dinh dưỡng trong cột nước để duy trì mật độ tảo ở mức thích hợp và hạn chế tảo độc phát triển, hoặc để ngăn ngừa các loại vi khuẩn hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao.

Đối với đáy ao có siphon hoặc không có siphon cũng rất cần những dòng vi khuẩn mạnh để kiểm soát sự tích tụ đáy ao, hạn chế quá trình yếm khí trong ao, giảm các loại khí độc (NH3, H2S) và hơn thế nữa là có thể hình thành các protein vi khuẩn và các floc để làm nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho tôm. Vì thế, người nuôi nên sử dụng kết hợp sản phẩm men vi sinh xử lý đáy và nước để kiểm soát môi trường ao nuôi tốt hơn.

Người nuôi cũng nên lựa chọn các nhà sản xuất có uy tín, chuyên nghiệp và công nghệ vi sinh tiên tiến. Men vi sinh chính là những vi khuẩn sống nên đòi hỏi quy mô thiết bị hiện đại để sản xuất được các sản phẩm thực sự chất lượng cao và ổn định. Ngoài ra, các nhà sản xuất chuyên nghiệp còn có khả năng truy xuất nguồn gốc mọi thành phần trong sản phẩm từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.

Song song với hiệu quả xử lý của sản phẩm, người nuôi tất nhiên sẽ lưu tâm tính toán đến liều lượng xử lý và chi phí toàn bộ vụ nuôi. Mỗi đợt xử lý đều phải tăng liều và/ hoặc thời gian xử lý định kỳ ngắn ngày hơn thì sản phẩm giá rẻ sẽ trở thành quá đắt khi tính trên cả vụ nuôi, chưa nói đến rủi ro nếu môi trường nuôi không được xử lý kịp thời ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và chất lượng tôm nuôi.

Khi đã chọn được một sản phẩm vi sinh tốt, người nuôi cũng cần quan tâm đến cách dùng sản phẩm: tính toán liều chính xác, định kỳ xử lý hoặc chia liều định kỳ nhỏ lại hoặc tăng liều tùy theo điều kiện thông số môi trường và quy trình cho ăn.

Thường xuyên theo dõi khay thức ăn và kiểm tra bùn đáy ao để xử lý liều vi sinh thích hợp.

Môi trường đáy ao biến động xấu, tôm sẽ ăn nhiều thức ăn trong khay, nên người nuôi có thể cho ăn nhiều hơn hoặc tăng cữ ăn sẽ làm môi trường tệ hơn, khi đó phải tăng liều vi sinh thì sẽ tốn chi phí hơn và lãng phí thức ăn.

Cũng sẽ rất mất thời gian và lãng phí khi dùng liều vi sinh quá cao có thể gây sụp tảo, mất cân bằng môi trường gây căng thẳng cho thủy sản nuôi.

Ở các ngày nhiệt độ cao hoặc mưa liên tục thì cần điều chỉnh tăng liều vi sinh thích hợp để tảo không phát triển quá dày.

Không sử dụng vi sinh cùng lúc với hóa chất và kháng sinh, vì hóa chất và kháng sinh sẽ làm chết hoặc làm mất tác dụng của vi sinh. Nếu đã sử dụng hóa chất và kháng sinh trong ao thì khoảng 2 – 3 ngày sau nên sử dụng vi sinh để khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong ao để cải thiện chất lượng nước và đáy ao.

Đa phần các sản phẩm vi sinh ở dạng bột, người nuôi nên cân trọng lượng liều phù hợp với đối tượng nuôi, mật độ và diện tích / thể tích ao nuôi. Cách sử dụng men vi sinh dạng bột là nên cho vào chậu một ít nước trước khi đổ sản phẩm vào để hạn chế bị gió tạt, khuấy đều và tạt khắp ao.

Thời gian xử lý vi sinh tốt nhất là lúc trời nắng và khi môi trường trong ao đã đủ lượng oxy hòa tan để các dòng vi khuẩn nhanh chóng được khởi động và nhân rộng sinh khối. tag: ong aero-tube

Có một quan niệm nên thay đổi về cách sử dụng men vi sinh là việc không sử dụng trước khi thả giống và sau khi thu hoạch, sử dụng loại men chất lượng trung bình, cắt giảm liều ở giai đoạn nuôi đầu vụ thì đều không thích hợp.

Môi trường ao nuôi trước khi thả giống đã được cải tạo và diệt khuẩn kỹ nên rất cần liều vi sinh mầm đầu tiên để nhân rộng sinh khối vi khuẩn có lợi đủ để lấn át vi khuẩn có hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao, đồng thời duy trì sử dụng vi sinh trong suốt quá trình nuôi để tạo môi trường thuận lợi nhất cho tôm phát triển.

Mặt khác, sau khi thu hoạch, ao nuôi còn lại rất nhiều các chất thải, cặn bã, phân tôm, xác tảo, bùn đen, mùi hôi thối, … cho nên cần sử dụng vi sinh để xử lý nước và đáy ao trước khi xả thải ra môi trường nhằm duy trì cho ao nuôi / vùng nuôi an toàn sinh học và bền vững ở các vụ tiếp theo.

Nên lưu ý rằng chi phí xử lý sự cố / rủi ro biến động môi trường hoặc phục hồi môi trường thì rất tốn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỉ lệ sống của tôm hoặc thủy sản nuôi. Men vi sinh không phải là liều thuốc tiên, nên không thể khi nào có sự cố môi trường thì mới sử dụng.

Cần định kỳ xử lý vi sinh để duy trì một mật độ vi khuẩn thích hợp nhằm kiểm soát sinh học môi trường nước và đáy ao, ổn định các điều kiện mong muốn trong môi trường nuôi trồng, ngăn ngừa và lấn át các loài vi khuẩn gây bệnh, tảo độc và mầm bệnh tiềm tàng trong ao

. Người nuôi nên áp dụng quy trình xử lý vi sinh trước, trong và sau mỗi vụ nuôi.

Men vi sinh nên được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp, nóng và nơi ẩm thấp. Nếu sử dụng không hết gói thì gói kín phần còn lại, cần tránh ẩm để không bị đóng vón.

Tóm lại, chọn một loại men vi sinh tốt sử dụng đúng cách kết hợp trong quy trình nuôi an toàn sinh học sẽ giúp người nuôi quản lý và theo dõi môi trường nuôi thuận lợi hơn và đảm bảo an toàn sức khỏe cho tôm và thủy sản nuôi khác. tag: ống xốp nuôi tôm

Đất cằn thì trồng na.

Dọc con đường đến UBND xã Bồ Lý, huyện miền núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc) chúng tôi bắt gặp nhiều hộ ở lưng chừng đồi, có vườn cây ăn quả tươi tốt.

Chăm sóc na.

Nhà nào cũng có vườn rộng. Lối đi giữa, hai bên là vườn mít, ổi, thanh long… Nhưng phổ biến nhất, là na. Các vườn na ở đây, 100% là giống na dai. Rẽ vào thăm ông Nguyễn Văn Nghĩa, thôn Tân Lập, hai bên lối đi, là vườn cây ăn quả. Ông Nghĩa cho biết, gia đình vừa thu một lứa quả, thương lái đến tận nơi “cất hàng”. Mỗi ngày đều đặn hái quả 2 lần. Thu hái đến đâu, thương lái vào mua đến đấy.

Bà con ở đây cho biết, thôn nào cũng trồng na. Nhưng nhiều nhất, tập trung nhất, là ở 2 thôn Ngọc Thụ (Khu 8) và thôn Trại Mái (Khu 9). Hai thôn này có khoảng 70 ha trồng na và 100% là na dai. Na dai ở đây quả to vừa phải, nhưng ăn ngọt mát, vị thơm đặc biệt.

Tìm vào nhà ông Nguyễn Văn Tuyến – Trưởng thôn Trại Mái – chúng tôi thấy một vườn na sai quả. Ông Tuyến cho biết, dân ở đây có thói quen thu hái na ngày 3 lần. Sáng sớm thu lần 1. Đến khoảng 9 giờ thu lần 2. Chiều khoảng 3 giờ thu lần 3. Họ thu na theo cách chín tự nhiên, nên không để lâu ngày. Không như các vùng na khác “hãm” na lâu chín. Bởi vậy, na ở đây được coi là “na sạch” không dùng bất cứ thứ hóa chất gì.

Ông Tuyến cũng cho biết, các thương lái đều đăng ký từng nhà, và đến từng nhà thu mua. Tùy theo thời gian, giá na dao động từ 30 đến 50 ngàn đồng/kg. Trung bình mỗi hộ trong thôn có 3 sào trồng na. Mỗi cây na cho từ 10 đến 20 kg/vụ. Thu hoạch rầm rộ nhất là từ cuối tháng 6 đến hết tháng 7. Thu hoạch theo kiểu chín đến đâu, thu hái đến đó. Tag: thiết bị sục khí

Các thôn từ ngày có cây na dai, đời sống khấm khá hẳn lên. Cây na cho thu nhập ổn định, không lo đầu ra. Chỉ có điều nên phát triển như thế nào. Những nhà có diện tích bình thường (từ 3 đến 5 sào) mỗi năm thu nhập cũng hàng trăm triệu đồng. Không ít nhà có diện tích từ 1 đến 2 mẫu (10 sào/mẫu) thì thu nhập phải cỡ tiền tỷ.

Hiện ở thôn Trại Mái, có gần 190 hộ và thôn Ngọc Thụ có trên 200 hộ trồng na. Đời sống rất ổn định, thu nhập khá. UBND xã Bồ Lý đang có kế hoạch hình thành một vùng na giai tập trung và xây dựng quả na dai Bồ Lý thành thương hiệu, được công nhận là loại quả đặc sản của địa phương.

Nguồn: 2lua.vn/article/dat-can-thi-trong-na-5d7b03cb425cc50840853324.html

Thân chào Quý bạn đọc,

máy thổi khí

Gần đây tôi nhận được nhiều tư vấn về Máy thổi khí bị nóng khi hoạt động. Qua bài viết này, tôi tổng kết và đưa ra các gợi ý để khắc phục tình trạng Máy thổi khí bị nóng.

Nhiều năm cung cấp Máy thổi khí cho ao nuôi tôm, đội ngũ kỹ thuật Công ty 2 Lúa nhận thấy Máy thổi khí bị nóng do nhiều nguyên nhân, phần nhiều do chưa nắm rõ thông số kỹ thuật thiết bị cũng như cách lắp đặt sục khí phù hợp.

Quy ước:

Máy thổi khí bị nóng trong bài viết này được hiểu là nóng quá mức bình thường, sức nóng có thể làm giảm nở ống nhựa.

A. Các nguyên nhân Máy thổi khí bị nóng

A.1/ Máy thổi khí bị nóng do dư lưu lượng khí

Trường hợp này khá phổ biến hiện nay, bà con mua Máy thổi khí để cung cấp sục khí đáy với ống Nano-Tube , phần chưa nắm rõ thông số kỹ thuật Máy thổi khí và nhu cầu lưu lượng khí của ống Nano-Tube.

  • Máy thổi khí AT-50 cung cấp lưu lượng khí cho 70m ống Nano-Tube;
  • Máy thổi khí AT-65 cung cấp lưu lượng khícho 90m Nano-Tube;
  • Máy thổi khí AT-80 cung cấp lưu lượng khícho 120m Nano-Tube;
  • Lưu ý: Tốc độ quay 1450 vòng /phút; độ sâu của ao là 1m – 1.2m

Vì một vài lý do, bà con sử dụng một số lượng rất ít ống Nano-Tube (ao nuôi nhỏ, nuôi thử nghiệm).

Do ống Nano-Tube sử dụng quá ít, dẫn đến không thể xả (tiêu thụ) hết lượng khí của Máy thổi khí kéo theo Máy thổi khí bị ép, gia tăng áp suất dẫn đến Máy thổi khí bị nóng, amp của Motor tăng cao, có thể gây hỏng motor.

A.2/ Ống Nano-Tube không được thay mới thường xuyên

Ống Nano-Tube là dạng xốp, lỗ thông hơi qua nhiều lớp, không theo một trật tự cố định (zíc-zắc), vậy nên sau một thời gian sử dụng, ống bắt đầu xuất hiện hiện tượng bị nghẹt. Nếu môi trường nước nhiều chất lơ lửng, bùn bã nhiều thì quá trình nghẹt trở nên nhanh hơn.

Khi ống Nano-Tube nghẹt, lượng không khí tiêu thụ (xả) ít hơn làm tăng áp lực lên Máy thổi khí dẫn đến Máy thổi khí bị nén trở lại, nhiệt độ bắt đầu gia tăng quá mức bình thường.

A.3/ Máy thổi khí nóng do ống dẫn nhỏ; nhiều điểm co, gấp khúc…

Một nguyên nhân dẫn đến Máy thổi khí nóng là sử dụng đường dẫn hơi từ máy ra xung quanh ao quá nhỏ (phi Φ21, Φ27).

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, sử dụng ống đường kính tối thiểu phi Φ42, Φ60.

Đường kính ống càng nhỏ thì ma sát càng lớn và ngược lại. Một lưu ý là giảm bớt số lượng co, tê càng nhiều càng tốt, giúp lưu thông không khí tốt hơn.

A.4/ Lượng nhớt không đủ hoặc chất lượng kém

Do trong quá trình máy hoạt động trên ao, người vận hành không chú ý kiểm tra mức nhớt trong máy hoặc do mắt thăm nhớt báo không chính xác.

Mọt nguyên nhân nữa được chỉ ra là sử dụng nhớt kém chất lượng.

B/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng

B.1/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng do dư lưu lượng khí

Giảm tốc độ quay của Máy thổi khí bằng cách sử dụng pu-li của Motor nhỏ hơn pu-li của Máy thổi khí.

Tăng số lượng ống Nano-Tube bằng cách gắn bổ sung 10-15m hoặc nhiều hơn tuỳ thuộc mức độ dư lưu lượng của Máy thổi khí.

Gắn thêm Van xả vào đường ống. Bạn có thể làm giảm áp lực cho Máy thổi khí bằng cách gắn thêm Van xả, điều chỉnh Van xả phù hợp cũng là giải pháp đơn giản để cân bằng áp suất cho Máy thổi khí.

B.2/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng do ống Nano-Tube nghẹt

Theo định kỳ, bạn nên thay thế mới ống Nano-Tube 6 tháng một lần.

Sử dụng Van một chiều để ngăn nước thấm ngược trở vào ống Nano-Tube. Sử dụng Ống Nano-Tube chất lượng tốt cũng hạn chế quá trình nghẹt của ống.

B.3/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng do ống dẫn nhỏ, gấp khúc

Ống dẫn chính từ máy thổi khí ra xung quanh ao hay bể nuôi nên sử dụng phi Φ42 trở lên.

Đối với ao nuôi có diện tích nhỏ (dưới 100m2), bạn có thể sử dụng ống phi Φ34.

Đương kính ống càng lớn ma sát càng nhỏ, điều này sẽ giúp cho Máy thổi khí hoạt động ổn định hơn.

Trong quá trình lắp đặt đường ống, chú ý đến các gốc co, hạn chế các góc gấp khúc. Sử dụng ống PVC chất lượng tốt, dán keo cẩn thận để đảm bảo đường ống không bị xì hơi. Nếu đường ống bị xì hơi, bạn rất khó phát hiện cũng như tìm ra vị trí bị xì.

B.4/ Sử dụng nhớt chất lượng tốt, thay nhớt thường xuyên

Theo khuyến cáo, nhớt sử dụng cho Máy thổi khí là nhớt 90, loại chất lượng tốt.

Định kỳ 30 ngày thay nhớt 1 lần (nếu chạy liên tục 24/24).

Đổ đủ số lượng nhớt vào họp nhớt của Máy thổi khí.


Một quan điểm sai lầm khi cho rằng sử dụng số lượng ống Nano-Tube ít để sục khí mạnh! Hãy hiểu rằng, nếu bọt khí phụt ra từ ống Nano-Tube quá mạnh, chúng sẽ trồi lên mặt nước rất nhanh, không có thời gian tiếp xúc trong nước để quá trình phản ứng diễn ra, oxy hoà tan rất thấp.

Sục khí đáy
Sục khí ao tôm

Trên đây là những chia sẽ từ kinh nghiệm thực tế. Sẽ còn nhiều nguyên nhân và cách làm tốt khác để hệ thống sục khí hoạt động hiệu quả hơn.

Cân bằng giữa lưu lượng khí của Máy thổi khí cung cấp với số lượng ống Nano-Tube sử dụng dụng. Khi đó Máy thổi khí hoạt động hiệu quả hơn, nhiệt độ ổn định, bọt khí tạo ra từ ống Nano-Tube nhỏ hơn, thời gian tương tác lâu trong nước, oxy hoà tan sẽ đạt hiệu suất cao hơn.

Nguồn: 2Lúa Blog hoặc Internet;
Tác giả: 2Lúa hoặc 2Lúa tổng hợp