Monthly Archives: August 2017

Phòng Bệnh Cho Tôm Bằng Tỏi

Mới đây, một nông dân ở xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế, đã dùng tỏi – một vị thuốc dân gian để phòng bệnh cho tôm và đem lại hiệu quả cao.

Phòng Bệnh Cho Tôm Bằng Tỏi

Vụ nuôi tôm đầu tiên của năm nay, gần như 100% tôm đã thả nuôi của xã Vinh Xuân đều bị chết, với tổng diện tích hơn 100 ha tôm mất trắng. Nguyên nhân là do dịch bệnh lây lan nhanh qua nguồn nước, nên tất cả các hộ đều thiệt hại. Thường thì các hộ nuôi dùng các loại kháng sinh có sẵn trên thị trường để phòng và trị bệnh cho tôm, nhưng hiệu quả không cao, hàng năm vẫn thua lỗ hàng chục tỉ đồng. tag: máy thổi khí at

Riêng gần 1 ha hồ tôm của gia đình ông Lê Đức Xuân vẫn cho năng suất cao, trừ chi phí lãi hơn 23 triệu đồng. Đến vụ 2, tình hình lặp lại tương tự. Điều này đã trở thành 1 kỳ tích đối với các hộ cùng làm nghề. Chuyện lạ đó bắt đầu từ việc ông Xuân nảy sinh ý tưởng dùng tỏi để phòng bệnh cho tôm. Nói về sáng kiến của mình, ông Lê Đức Xuân cho biết: “Cái gì trong dân gian trị được cho người thì cũng có thể dùng được cho vật nuôi, xuất phát từ ý tưởng đó tôi nghiên cứu và bắt đầu bỏ không cho tôm ăn thuốc, vì thuốc có lợi trước mắt nhưng có hại về sau, mà tôi cho ăn tỏi. Thời gian tôi ở trong rừng mỗi lần bị cảm cúm đều ăn tỏi để trị cảm cúm, trị môi trường nước non, nên lần này tôi làm thử”.

Khi tôm bị bệnh, gia đình ông Xuân đã thử làm thuốc kháng sinh bằng tỏi cho tôm ăn. Khâu chế biến cũng không phức tạp lắm, củ tỏi được bóc sạch vỏ, giã nhuyễn, đem chưng vàng với dầu thực vật, theo tỷ lệ: 1 kg tỏi cộng với 1 lít dầu ăn, rồi đem trộn với 15 kg thức ăn của tôm, để một thời gian nhất định cho hợp chất trên ngấm đều, sau đó cho tôm ăn cách quãng trong 5 bữa. Thường thì, chỉ cho tôm ăn thức ăn có trộn tỏi trong khoảng từ 7 đến 10 hôm, là tạm nghỉ với thời gian tương đương, sau đó lại tiếp tục. Cứ như thế, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, ông Xuân đã tự lập được pháp đồ phòng và trị bệnh cho tôm bằng tỏi. Phòng bệnh cho tôm bằng tỏi có chi phí thấp hơn nhiều so với dùng thuốc.

Ông Lê Đức Xuân cho biết, bình quân trước đây 1 vụ, gia đình ông dùng thuốc bán sẵn trên thị trường chi phí từ 2 đến 3 triệu, vụ vừa rồi chỉ dùng tỏi, chi phí giảm còn khoảng 300.000 đồng. Rõ ràng tỏi đã tăng sức đề kháng cho tôm, nhưng dù như vậy thì cũng phải hết sức cẩn thận trong việc lấy nước vào, bởi nước ô nhiễm luôn mang theo nguồn bệnh, đó là kinh nghiệm của ông Xuân.

Một số hộ cũng đã làm theo ông Xuân, nhưng do không kiên trì làm từ đầu đến cuối, lại chủ quan trong việc lấy nước, nên tôm vẫn dịch bệnh. Tuy nhiên, để bài thuốc trên của ông Xuân có thể sử dụng một cách phổ biến, các cơ quan chức năng tỉnh Thừa Thiên Huế cần quan tâm, nghiên cứu và kiểm chứng, bởi rất có thể từ ý tưởng của người nông dân này lại là giải pháp hữu hiệu cho tình trạng dịch bệnh tôm chết tràn lan như hiện nay.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-benh-cho-tom-bang-toi-3544.html

Bảo Quản Tôm Sau Thu Hoạch

Hiện nay đang vào mùa thu hoạch tôm ở ĐBSCL và các tỉnh phía Nam. Để sản phẩm tôm được đảm bảo chất lượng và vệ sinh trước khi chế biến, bà con cần lưu ý về phương pháp bảo quản tôm sau thu hoạch.

Bảo Quản Tôm Sau Thu Hoạch

Chuẩn bị dụng cụ

Trước khi thu hoạch, tôm cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ và vật liệu như tấm bạt nhựa, xô, rổ nhựa, thùng cách nhiệt, nước sạch để rửa tôm, nước đá sạch để bảo quản. tag: máy thổi khí at

Thu hoạch

Chỉ thu hoạch khi tôm có vỏ cứng và kích cỡ ít hơn 40 con/kg. Muốn biết được điều này, trước khi thu hoạch 1-2 ngày, tiến hành kiểm tra, nếu tỷ lệ tôm mềm vỏ dưới 1% và tôm đạt trọng lượng 30-40 con/kg mới tiến hành thu hoạch.

– Dùng lú đặt khắp ao, cho chạy quạt để bắt bớt lượng tôm trong ao, sau đó thu toàn bộ qua lú đặt ở cống và bơm khô nước để thu nhặt hết tôm còn sót lại.

– Dùng lưới kéo có diện tích lớn hoặc lưới xung điện để kéo tôm, sau đó bơm khô và thu toàn bộ. Sau đó, rửa tôm bằng nước sạch, loại bỏ rác.

Lưu ý: Rửa và lựa tôm nơi thoáng mát. Tôm phải được để trên tấm nhựa hoặc rổ nhựa sạch, không để tôm trực tiếp xuống đất, sàn gỗ hoặc nền xi măng.

– Gây chết tôm bằng nước đá lạnh theo tỷ lệ 2 phần tôm với 1 phần nước đá và 1 phần nước. Đổ nước vào thùng nhựa hoặc thùng cách nhiệt. Cho nước đá xay hoặc nước đá vảy vào theo tỷ lệ 10 kg nước đá vào 10 lít nước. Khuấy đều cho nước đá tan (độ lạnh 00C), cho 20 kg tôm vào thùng, đậy nắp lại và giữ nước khoảng 30 phút.

Ướp tôm

– Sau khi tôm chết và được làm lạnh thì vớt ra và chuyển sang ướp với nước đá xay hoặc đá vảy trong thùng cách nhiệt. Tỷ lệ tôm và nước đá tùy thuộc vào thời gian bảo quản và vận chuyển tôm đến nơi thu mua hoặc xí nghiệp tôm đông lạnh. Nếu thời gian bảo quản và vận chuyển không quá 12 giờ thì ướp tôm với nước đá theo tỷ lệ 10 kg tôm với 5 kg nước đá; từ 12- 14 giờ thì theo tỷ lệ 10 kg tôm với 10 kg nước đá.

– Trải một lớp nước đá ở đáy thùng cách nhiệt dày khoảng 10 cm. Cho vào một lớp tôm mỏng dưới 10 cm, sau đó xếp lần lượt một lớp nước đá 1 lớp tôm cho đến khi đầy thùng. Trên cùng phủ lớp nước đá dày hơn 10 cm. Đậy kín nắp thùng và bảo quản nơi thoáng mát.

Vận chuyển

Sau khi tôm được ướp với nước đá cần chuyển ngay đến nơi thu mua hoặc xí nghiệp đông lạnh càng sớm càng tốt.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bao-quan-tom-sau-thu-hoach-3567.html

Tiêu Chuẩn Chọn Tôm Sú Giống

Tôm giống tốt là yếu tố rất quan trọng để đạt năng suất cao trong khi nuôi và phòng tránh được các loại bệnh gây ra cho tôm.

Tiêu Chuẩn Chọn Tôm Sú Giống

Tiêu chuẩn lựa chọn:

– Con giống phải đồng đều, cùng kích cỡ, khoảng 12mm. tag: máy thổi khí at

– Tôm sú có 6 đốt ở bụng, các đốt này càng dài càng tốt và tôm sẽ lớn nhanh. Tôm có đuôi, râu hình dáng chữ V và góc hai râu sát nhau như góc chữ V là tôm khoẻ.

– Các chân ở phần đuôi gọi là chân đuôi hay đuôi, khi bơi xoè rộng, khoảng cách giữa 4 chân ở phần đuôi càng xa càng tốt…

– Cơ thịt bụng tôm co đều đặn, căng bóng mới tạo được dáng vẻ đẹp cho tôm.

– Không có vật lạ như nấm, vi khuẩn, hay nguyên sinh động vật bám ở chân, bụng, đuôi, vỏ và mang tôm. Những vật lạ này sẽ làm tôm bị ngạt và không lột xác được.

– Màu sắc tôm tươi sáng, vỏ mỏng, có màu tro đen đến đen, đầu thân cân đối là con giống tốt.

– Tôm bơi ngược dòng rất khoẻ khi đảo nước trong chậu hoặc bám chắc khi bị dòng nước cuốn đi. Nếu có 10 trong số 200 con thả mà trôi theo dòng nước là giống tôm yếu, tôm xấu. Tôm phàm ăn, ăn tạp, chân ngực bắt giữ mồi tốt là con giống tốt.

– Tôm có khả năng chịu đựng tốt khi dùng formol. Số tôm bị chết ít (5/150 con) khi dùng formol 1cc/10 lít nước, đó là giống tốt.

Sau khi chọn lựa tôm giống theo các tiêu chuẩn trên, trước khi thả tôm vào ao, phải tắm vô trùng cho tôm rồi thả tôm giống vào ao hoặc ương tiếp 15- 20 ngày, sau đó tuyển chọn tiếp lần nữa mới thả nuôi sẽ đảm bảo hơn.

Tuyển chọn lại những con tôm khoẻ, xoè đuôi ra hết cỡ khi bơi. Những con thích bơi ngược dòng nước thả vào ao là tốt nhất. Mật độ thả trung bình 5- 7 con/m2 với nuôi quảng canh và 30 – 50 con nếu nuôi thâm canh.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tieu-chuan-chon-tom-su-giong-3934.html

Phòng Trị Bệnh Chung Cho Tôm

Tôm hiện là một trong những loài thủy sản nuôi nhiều nhất và đem lại lợi nhuận cao cho bà con nông dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công cũng không ít nông dân phải lao đao vì tôm mắc bệnh. Để giúp bà con phòng tránh những hiểm họa trong nuôi tôm, chúng tôi xin giới thiệu một số bệnh và đưa ra cách phòng tránh chung giúp bà con phần nào hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra.

Phòng Trị Bệnh Chung Cho Tôm

1. Bệnh viêm ruột, xuất huyết đường ruột và hoại tử

Nguyên nhân: Tôm bị nhiễm trùng và thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin C. Ngoài ra cũng có thể do tôm bị ngộ độc khí, kim loại nặng hoặc do các yếu tố môi trường xấu (hàm lượng oxy, nồng độ muối thấp, nhiệt độ nước ao thay đổi đột ngột, trong nước ao nuôi có độc tố do một số tảo tiết ra khi vào ruột tôm làm tấy đỏ thành ruột và ức chế chức năng gan tụy). tag: máy thổi khí at

Dấu hiệu: Bệnh xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển từ tôm giống đến trưởng thành làm cho tôm mất khả năng thấm lọc ruột dẫn đến hấp thụ dinh dưỡng kém rồi tử vong. Đối với tôm bị bệnh thường lờ đờ, vỏ có màu xanh nhạt, dưới vỏ có nhiều đốm màu nâu, hơi vàng. Khả năng tiêu hóa của ruột và gan tụy giảm sút nghiêm trọng làm tôm giảm ăn, chậm lớn, dễ bị sốc. Trong ruột tôm có nhiều vi sinh vật tạp khuẩn.

Phòng bệnh: Nên sử dụng chế phẩm sinh học để tăng cường đường tiêu hóa, tạo khả năng cho ruột tôm hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng, đồng thời làm sạch đáy ao, giảm thiểu các khí độc và độc tố do môi trường bị ô nhiễm.

Sử dụng chế phẩm ES-22 Imm Build để tăng cường sức đề kháng cho tôm. Đối với tôm thịt ngay sau khi thả post xuống ao nuôi, rắc khoảng 50-100gam ES-22 (ngày 2 lần) lên mặt ao nuôi có diện tích 1.000m2. Từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 4 trộn 200g (0,2%) với 100kg thức ăn để cho tôm ăn hàng ngày. Từ 1tháng tuổi đến khi thu hoạch trộn 100g (0,1%) với 100kg thức ăn để cho tôm ăn hàng ngày.

2. Bệnh phát sáng

Dấu hiệu: Xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của tôm. Bệnh này có thể gây ra hiện tượng tôm bị mòn đuôi, cụt râu.

Phòng bệnh: Giữ nền đáy sạch trong suốt quá trình ương nuôi, dùng men vi sinh 3 lần/tháng (loại Actizymen hay loại BRF-2) tăng cường sục khí để tăng oxy hòa tan và đồng đều ôxy giữa các tầng nước, tránh hiện tượng tảo tàn. Có thể dùng đường cát bón xuống ao (1-3ppm) để kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn phát sáng.

Giảm độ mặn nước ao xuống dưới 20%0 có thể giảm sự phát triển của vi khuẩn phát sáng

Dùng BKC phun xuống ao để diệt vi khuẩn phát sáng tồn tại trong ao với nồng độ 0,1-0,5ppm.

3. Bệnh đốm nâu:

Bệnh thường xảy ra sau khi nuôi 2-3 tháng trở đi, trên cơ thể tôm xuất hiện các đốm màu nâu và sau đó chuyển sang màu đen. Khi nhiễm bệnh, thường xuất hiện ăn mòn các phần phụ như đuôi, chân bụng, râu, trên thân tôm.

Tôm bị bệnh sẽ rất yếu, hoạt động chậm chạp, con bị nặng sẽ chết. Tác nhân gây ra bệnh chủ yếu do vi khuẩn Aeromonas.

Phòng trị: Khi tôm bị bệnh thay dần nước ao. Kiểm soát phòng ngừa bênh đốm nâu bao gồm: cải thiện môi trường nuôi thông qua sự chăm sóc, quản lý và đầy đủ dinh dưỡng, đáy ao phải bằng phẳng, tăng cường tác ẩn cho tôm, hạn chế tối đa sự tụ tập của tôm chống hiện tượng ăn thịt lẫn nhau bằng cách cung cấp đầy đủ thức ăn và giữ cho chất lượng nước ao luôn tốt.

4. Bệnh đỏ toàn thân

Nguyên nhân: Có thể do các chất độc từ các vi sinh vật hay do nhiễm vi khuẩn. Cho tôm ăn thức ăn có tạp hôi thối lâu ngày là nguyên nhân gây bệnh. Các vi khuẩn gây độc và gây bệnh này trú ở gần gan tụy của tôm. Các loại tôm đều mắc bệnh này. Bệnh xảy ra ở tất cả các giai đoạn nhưng phổ biến ở tôm giống và tôm trưởng thành.

Bệnh lý được biểu hiện qua những giai đoạn khác nhau, tôm mới nhiễm bệnh có màu vàng hơi xanh, tập tính bình thường. Giai đoạn tiếp theo, tôm trở nên có màu đỏ từ mang, các đầu chân, và sau đến toàn bộ cơ thể. Giai đoạn nặng, sắc tố bình thường của tôm bị mất hoàn toàn. Trên đầu ngực của tôm có nhiều chất dịch nhờn, rất tanh và hôi thối. Gan tụy bị phá hủy và có màu vàng nhợt nhạt không bình thường. Tôm bệnh chết hàng loạt.

Phòng bệnh: Không cho tôm ăn thức ăn tươi sống quá dư thừa. Chuẩn bị ao kỹ trước khi nuôi và quản lý chất lượng nước ao tốt để hạn chế bệnh xảy ra.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-tri-benh-chung-cho-tom-3944.html

Làm thế nào để kiểm soát ký sinh trùng Microsporidian trong trại tôm

Một loại ký sinh trùng microsporidian đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nuôi trồng thủy sản ở châu Á. Báo cáo này do tiến sĩ Stephen Newman lấy ra từ thực hành tốt nhất trong việc làm giảm các tác nhân gây bệnh. Báo cáo được xuất bản trong chủ trương nuôi trồng thủy sản toàn cầu,  một ấn phẩm Liên minh Nuôi trồng thủy sản toàn cầu.

Enterocytozoon hepatopenaei (EHP), một loại ký sinh trùng microsporidian đã được tìm thấy rộng rãi ở châu Á và các vùng khác trên thế giới, đang tác động đến sản xuất nuôi trồng thủy sản do làm chậm phát triển tôm nuôi. tag: nuôi hải sản

Mặc dù các bệnh lý thường gặp nhất với microsporidians là sự đổi màu trắng trong cơ do bào tử chậm tăng trưởng và gây ra các vấn đề, nhưng EHP thì khác.

Nó chỉ gây bệnh các ống gan tụy ở tôm, điều này làm hủy hoại  khả năng của các cơ quan quan trọng này nhằm lấy chất dinh dưỡng từ thức ăn. EHP không gây tử vong nhưng gây hạn chế tăng trưởng.

Trước đây, nó được phân loại là động vật nguyên sinh, phân loại gen đã xác định rằng microsporidians có liên quan chặt chẽ với nấm. Khoảng 100 chi của microsporidians được biết là lây nhiễm động vật giáp xác và cá.

EHP bây giờ là loài đặc hữu trên khắp Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam, và có khả năng hiện diện ở Ấn Độ và Mexico.

Nó có thể được tìm thấy ở bất cứ đâu, nơi có nhập khẩu thức ăn trực tiếp từ Trung Quốc và các loài động vật từ các khu vực mà EHP là loài địa phương.

EHP là rất khó để tiêu diệt.Chúng tôi chỉ có thể kiểm soát mức độ của nó.

EHP được phát hiện như thế nào?

Các tác nhân gây bệnh có thể được phát hiện bằng cách sử dụng công cụ gen ví dụ như phản ứng chuỗi polymerase (PCR) và thử nghiệm khuếch đại đường đẳng nhiệt vòng trung gian phân từ cá giống. Những phương pháp này cũng có thể được sử dụng với ấu trùng.

Kính hiển vi ánh sáng có thể được sử dụng, mặc dù có thể rất khó để nhìn thấy các bào tử rất nhỏ. Dù hiệu quả nhưng sàng lọc tôm bố mẹ đòi hỏi phải kiểm tra từng cá thể , một thực tế tốn kém.

Ở một số vùng, có thể không có động vật nào nhiễm mầm bệnh.

Điều trị EHP

Bệnh Microsporidian thường được điều trị bằng loại thuốc đặc trị mà có thể không có hiệu quả tiêu diệt EHP vì đặc mô của nó.

Đối phó với vấn đề này đòi hỏi một chiến lược ba nhánh kết hợp an toàn sinh học trong sản xuất giống, chuẩn bị ao nuôi và quản lý ao thích hợp trong chu kỳ tăng trưởng.

Loại bỏ hoàn toàn microsporidians là không thể. Giải pháp tốt nhất là giảm bớt số lượng xâm nhập vào ao và kiểm soát các cấp độ hệ sinh thái cho phép.Các sinh vật gây bệnh trực tiếp của EHP trong ao vẫn chưa được xác định.

An toàn sinh học trong sản xuất giống

Thực hành đúng và an toàn sinh học trong sản xuất giống có thể giúp kiểm soát EHP.

Không cho ăn thức ăn sống

Cá giống trưởng thành cũng như những con cho ăn thức ăn sống bị nhiễm vius, có thể bị nhiễm và lây lan EHP qua phân.

Việc sử dụng động vật sống – bao gồm giun nhiều tơ, nghêu, mực nước ấm và Artemia địa phương – trong các cơ sở nuôi cá giống đặt ra một nguy cơ an toàn sinh học quan trọng và không được khuyến khích.

Thức ăn sống như loài nhuyễn thể không có nguy cơ. Nếu sử dụng thức ăn sống, chúng nên được đông lạnh, khử trùng hoặc thậm chí chiếu xạ.

Tẩy uế

Các cơ sở nuôi và trại giống nên được làm khô hoàn toàn, rửa sạch và sau đó khử trùng bằng dung dịch kiềm natri hydroxit. Tất cả các thiết bị, đường ống và bể chứa cần được ngâm trong dung dịch natri hydroxit 2,5%  ít nhất ba tiếng.

Sau đó, dung dịch kiềm còn lại nên được rửa sạch, và tất cả các vật liệu xử lý phải để khô trong một thời gian dài. Rửa sạch trước khi sử dụng với clo axit hóa 200 ppm và pH nhỏ hơn 4,5.

Bào tử Microsporidian rất có sức đề kháng với hầu hết các phương pháp điều trị nên loại bỏ hoàn toàn sẽ là một thách thức. Mục đích là giảm đáng kể số lượng xâm nhập.

Trứng sạch, nauplius

Chiến lược đã được chứng minh cho việc rửa nauplii với sự pha trộn thích hợp nước ngọt và hóa chất (i-ốt và formaldehyde, trong số hóa chất khác) có thể làm suy yếu các bào tử thụ động có trong trứng và ấu trùng – nhờ vậy làm giảm lây nhiễm – nên trở thành thói quen.

Đây là một công cụ hiệu quả chống lại EHP, cũng như giảm tải các vi khuẩn gây ra hội chứng tử vong sớm truyền từ tôm bố mẹ đến ấu trùng.

Chuẩn bị ao nuôi

Những loài hữu cơ cao thường liên quan đến các bào tử. Có thể có một số sinh vật trung gian, và cho đến khi chắc chắn nó là gì thì chúng tôi sẽ sử dụng các chiến lược để điều trị trầm tích đúng cách trước khi thả giống.

Bởi vì bào tử thường đề kháng với một loạt các điều kiện môi trường, các loài khác  nhau thể hiện sự nhạy cảm khác nhau, nên những đề xuất chung nhằm loại bỏ chất hữu cơ tích lũy và điều trị đáy ao với vật liệu ăn da giúp mang lại độ pH12 và giết các bào tử. Việc tiêu diệt tất cả chúng thì không thể.

Ao đất nên được khử trùng với oxit canxi, hoặc vôi sống, áp dụng ở mức 6.000 kg / ha hoặc cao hơn.

Đáy ao phải được làm khô hoàn toàn.Rải vôi vào trầm tích khô đến độ sâu 10-12 cm, sau đó làm ẩm các trầm tích để kích hoạt vôi.

Nếu ứng dụng được thực hiện đúng cách thì độ pH của đất sẽ tăng đến 12 hoặc hơn trong vòng vài ngày và sau đó dần dần trở lại bình thường bởi vì vôi trở thành canxi cacbonat.

Quản lý ao

Sau khi đất đã được cải tạo, sử dụng các sản phẩm thương mại phù hợp từ  giai đoạn bắt đầu nuôi để ngăn chặn sự tích tụ một lượng lớn chất hữu cơ. Có thể sử dụng một cách hoặc kết hợp với trao đổi nước.

Mục đích là để giảm bớt lượng chất hữu cơ tích lũy và do đó làm giảm hồ chứa tiềm năng cho các bào tử  tiêu hóa và tiếp tục lây nhiễm sang tôm. Việc sử dụng hợp lý ở các mức độ giảm bớt lượng chất hữu cơ là rất quan trọng.  tag: nuôi tôm

Triển vọng

Việc giảm số lượng bào tử trong môi trường sản xuất bằng cách giảm lây truyền sai của chúng như một kết quả của các bề mặt bị ô nhiễm do sinh sản, kết hợp với  việc giới hạn hồ chứa các bào tử, sẽ làm giảm mức độ nghiêm trọng của EHP.

Sử dụng phù hợp các phương pháp này sẽ giảm bớt những tác động lâu dài và giảm các bào tử môi trường.

Nguồn: https://www.2lua.vn/report/lam-the-nao-de-kiem-soat-ky-sinh-trung-microsporidian-trong-trai-tom-58bfb457e495199a1f8b456b.html

Phát huy tiềm năng di truyền của tôm sú

Tôm sú (Penaeus monodon) là loài tôm được nuôi nhiều thứ hai trên toàn cầu, chiếm khoảng 15% tổng sản lượng tôm năm 2014, tương đương 634.521 tấn (FAO 2016).

Mặc dù tăng trưởng sản xuất sớm vào giữa những năm 1980 nhưng việc tiếp tục mở rộng ngành nuôi tôm sú đã không đạt được những kỳ vọng ban đầu, chủ yếu do khó khăn về nguồn cung cấp tôm bố mẹ và sự thuần hóa các loài, sự tàn phá của các bệnh do virus, sự cạnh tranh trên thị trường từ các loài tôm họ penaeid khác, và các rào cản thương mại.

Kết quả là, ngành nuôi tôm chân trắng hoàn toàn thuần hóa và được cải thiện di truyền (Penaeus vannamei) đã trở thành một xu hướng phổ biến, đặc biệt là ở châu Á, nơi mà loài này đã được đưa vào sản xuất thương mại vào năm 1996. tag: máy thổi khí at

Ở Úc, tôm sú vẫn là loài giáp xác được nuôi chính, chiếm khoảng 95% tổng sản lượng tôm trong năm 2014 (5.000 tấn; APFA 2016). Trong lịch sử, ngành nuôi tôm của Úc đã phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tôm bố mẹ tự nhiên làm nguồn sản xuất tôm giống cần thiết cho các trại nuôi tôm, mặc dù các tiến bộ gần đây trong việc nuôi và thuần hóa của một số công ty đang làm giảm sự phụ thuộc này.

Việc thuần hóa bán thương mại cùng với sự chọn lọc để tăng cường phát triển, sự tồn tại và kháng bệnh đã nhấn mạnh những lợi ích và sự tăng năng suất có thể thu được từ việc cải tiến di truyền của các loài (ví dụ, sản lượng cao hơn 39% so với giống tôm tự nhiên; Norman-Lopez. et al 2015. Aquaculture Research doi:. 10,1111 / are.12782). Do vậy, việc lai tạo chọn lọc giống tôm sú là mối quan tâm lớn ở Úc. Tuy nhiên, đến nay, ngành nuôi tôm Úc đã không thu được nhiều lợi nhuận từ việc này.

Hội đồng ARC cho nhân giống tiên tiến tôm sú

Nhận thức được tầm quan trọng của ngành nuôi trồng thủy sản là một ngành công nghiệp cung cấp hải sản lành mạnh và bền vững cho cộng đồng toàn cầu, Hội đồng nghiên cứu Úc (ARC) đã tài trợ 5 năm cho Trung tâm Nghiên cứu Chuyển đổi công nghiệp với các nhà di truyền học động vật, các nhà nghiên cứu về gien, bệnh học và nuôi trồng thuỷ sản hàng đầu từ Đại học James Cook, Tổ chức nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Khối thịnh vượng chung (CSIRO) và Đại học Sydney, các chuyên gia về xác định trình tự bộ gien từ các cơ sở nghiên cứu Bộ gien Úc (AGRF) và Đại học Ghent, và một trong những nhà sản xuất tôm nuôi lớn nhất của Úc, Seafarms Group. (Seafarms Group là người đề xuất dự án Sea Dragon, dự án nhằm mục đích phát triển một trong những trang trại nuôi tôm lớn nhất thế giới bao gồm 10.000 ha ao nuôi ở miền bắc Úc.)

Các mẫu tôm sú là kiểu hình nhuộm màu

Các kết quả của Trung tâm ARC về lai tạo giống tôm tiên tiến nhằm mang lại những kiến thức di truyền của tôm sú đến một mức độ tương đương như ở gia súc, để tạo ra các công cụ và quy trình cần thiết nhằm tiến hành một chương trình nhân giống tiên tiến cho các loài có khả năng mở rộng sản xuất ở quy mô công nghiệp. Đặc biệt, Trung tâm đã nỗ lực chỉ ra các kiến thức về di truyền và kiểu hình giúp các phương pháp thống kê chính xác cao dựa trên các marker bộ gien có thể được sử dụng để dự đoán giá trị di truyền của một vật nuôi.

Cách tiếp cận này được gọi là chọn lọc gien và gần đây đã được thiết lập như một tiêu chuẩn vàng trong chương trình cải tiến vật nuôi và cây trồng. Việc kết hợp chọn lọc gien vào chương trình lai tạo giống đã được chứng minh làm tăng đến 81% lợi ích di truyền đối với một số đặc điểm và có sự gia tăng trung bình 33% trong độ chính xác giá trị giống so với phương pháp dựa vào kiểu hình thuần túy truyền thống (Nielson et al. 2009. Aquaculture Research 289 :. 259-264 & Nielson et al 2011. Journal of Animal Science 89: 630-638).

Hơn nữa, việc chọn lọc bộ gien mang lại nhiều khả năng nhất trong việc lựa chọn các đặc điểm mà không thể đo lường trực tiếp trên các giống tôm tiềm năng (như khả năng chống chịu bệnh, chất lượng thịt và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn), vì việc chọn lọc bộ gien nắm bắt được cả các thành phần gia đình trong và giữa các biến trạng gien. Phương pháp tích hợp các chọn lọc gien vào các chương trình lai tạo tôm giống, đặc biệt là những phương pháp kết hợp các đặc điểm kháng bệnh và sinh lý học, hứa hẹn sẽ tăng nhanh chóng các lợi ích di truyền hơn so với việc chọn lọc kiểu hình truyền thống.


Mẫu tôm sú để phân tích AND (nhà nghiên cứu Quyen Quyen Banh và Tansyn Noble).

Trung tâm ARC sẽ mang lại gì cho ngành nuôi tôm của Úc

Các hoạt động cho Trung tâm ARC đối với Chương trình lai tạo giống tôm tiên tiến thuộc 5 đề tài nghiên cứu, mỗi đề tài trong số đó hoặc là chuyển giao kiến thức nền tảng, hoặc các công cụ di truyền để đạt được các mục tiêu bao quát của việc chọn lọc gien. Những đề tài khoa học bao gồm:

Sản xuất giống bố mẹ thuần – Đối với bất kỳ chương trình nhân giống nào, để thành công cần phải có một nguồn tôm bố mẹ đáng tin cậy. Khi làm việc với các nhân viên Seafarms, phương pháp nuôi tiên tiến sẽ được sử dụng để sản xuất số lượng lớn tôm bố mẹ thuần. Đó là một mục tiêu chính của Trung tâm ARC tạo nên rất nhiều các dòng tôm thuần với các số liệu về kiểu hình và bộ gien bao quát có thể trở thành nguồn giống cơ bản cho chương trình chọn lọc tương lai của Seafarms.

Phác thảo bộ gien tôm – Kiến thức về cấu trúc gien của tôm sú có thể cung cấp thông tin cần thiết cho sự phát triển các bản đồ di truyền và chương trình nhân giống gien tiên tiến, cùng với việc cung cấp khả năng để hiểu rõ hơn về chức năng của các gien liên quan đến các đặc điểm thương mại quan trọng. Trung tâm ARC đang sử dụng sự kết hợp của công nghệ giải trình tự thế hệ mới nhất để tạo nên một bộ gien phác thảo, và hệ phiên mã mô cụ thể. Trung tâm cũng sẽ áp dụng phương pháp lập bản đồ so sánh bộ gien của tôm sú với các loài giáp xác khác để tinh chỉnh thêm bộ gien phác thảo. Mục đích là tạo nên bộ gien tôm toàn diện nhất cho đến nay.

Sản xuất các nguồn tài nguyên di truyền – Việc hiểu về cấu trúc gien và cấu trúc di truyền đặc điểm là một điều kiện tiên quyết quan trọng của bất kỳ chương trình chọn giống tiên tiến nào. Trung tâm ARC sẽ tạo ra nguồn gien mở rộng toàn diện cho tôm sú sử dụng phương pháp kiểu gien theo trình tự. Cách tiếp cận này sẽ xác định hơn 50.000 marker hiện tượng nhiều hình thái nu-clê-ô-tít đơn (SNP), trong đó, thông qua việc sử dụng các dữ liệu phả hệ, sẽ gắn liền với bản đồ liên kết di truyền. Những marker này sẽ tạo cơ sở cho việc dự đoán giá trị giống di truyền của một cá thể khi tương quan với thông tin về kiểu hình.

Việc thu thập các dữ liệu kiểu hình và sự phát triển của các công nghệ thu nhận kiểu hình nhiều đặc điểm

Các chương trình nhân giống tôm đòi hỏi việc thu thập các hồ sơ kiểu hình từ hàng chục ngàn cá thể tôm mỗi thế hệ. Ngay cả đối với một đặc điểm duy nhất, việc này cần một sự đầu tư rất lớn lao động để thu thập đủ số lượng dữ liệu nhằm đưa ra quyết định lựa chọn đáng tin cậy. Kết quả là các chương trình cải thiện tôm giống thường bị hạn chế trong việc chọn lọc tăng trưởng, sự tồn tại và khả năng kháng bệnh.

Tôm trong quá trình đặt kiểu hình nhuộm màu

Một trong những mục tiêu chính của Trung tâm ARC là thu thập dữ liệu kiểu hình trên quy mô công nghiệp cho rất nhiều đặc điểm đồng thời sử dụng các phương pháp tự động. Như vậy, các nhà nghiên cứu đã phát triển phần mềm để ước tính trọng lượng và thông số về cơ thể tôm từ hình ảnh kỹ thuật số và cũng đang thử nghiệm quang phổ học hồng ngoại (NIRS) để xác định nhanh chóng kiểu hình tôm với những đặc điểm sinh hóa quan trọng như hàm lượng protein và axit béo omega-3.

Ước lượng tham số di truyền và chọn lọc gien

Cuối cùng Trung tâm ARC nhằm mục đích lần đầu tiên thực hiện lựa chọn gien ở tôm sú. Để làm điều này, tất cả phả hệ, thông tin di truyền và kiểu hình thu thập trong suốt các chương trình nghiên cứu sẽ được tích hợp sử dụng một cơ sở dữ liệu xây dựng có mục đích, liên kết bộ gien với hệ tính trạng, và các thuật toán dự báo ước tính giá trị lai tạo bộ gien của một cá thể. Trung tâm ARC sẽ xác nhận các thuật toán dự báo trong thế giới thực, cung cấp chương trình lai chọn tạo giống đa tính trạng tiên tiến nhất trên thế giới đối với loài tôm.

Triển vọng

Việc lai tạo tôm giống tiên tiến của Trung tâm ARC đã được tiến hành trong một năm rưỡi, trong thời gian đó các nhà nghiên cứu đã lấy mẫu và lấy kiểu hình của hơn 22.000 con tôm từ 130 họ thu hoạch từ các ao nuôi thương mại Seafarms. ADN đã được lấy để phân tích nguồn gốc và bộ gien, trong khi tại cùng một thời điểm tôm đã được lấy mẫu để thử nghiệm khả năng chống chịu vi-rút (GAV) và khả năng chịu stress. Về tổng thể, người ta dự đoán rằng khoảng 35.000 con tôm sẽ được sẽ được xác định kiểu hình và kiểu gien để thiết lập các thuật toán dự đoán cần thiết cho việc chọn lọc bộ gien.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phat-huy-tiem-nang-di-truyen-cua-tom-su-58575507e4951958768b456d.html

Tiêu thụ Biofloc bởi ấu trùng tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương

Trong giai đoạn đầu nuôi tôm biển, chế độ ăn uống bao gồm thức ăn tươi sống có thể có hiệu quả hơn như một nguồn thực phẩm vì các loại thực phẩm vẫn còn khả thi trong một thời gian dài ở cột nước và có khả năng tiêu hóa cao. Tuy nhiên, thức ăn tươi sống rất tốn kém để sản xuất và duy trì, cũng như phụ thuộc vào người lao động có tay nghề giỏi.

Các hệ thống nuôi bioflocs – BFT (Công nghệ bioflocs) có thể là nguồn thức ăn tươi sống trong giai đoạn nuôi thương phẩm của sản xuất tôm biển. Công nghệ này dựa trên việc bổ sung nguồn carbon hữu cơ được các vi khuẩn sử dụng để chuyển đổi nitơ dư thừa ở sinh khối vi khuẩn trong bể sản xuất, và do đó nó có thể làm giảm sự trao đổi nước. tag: máy thổi khí at

Các nguồn thực phẩm khác nhau (A: Artemia; B:bioflocs; C: thức ăn thủy sản công nghiệp; D: lông rung; E, F: vi tảo) và ấu trùng tôm (G, H) được sử dụng trong thử nghiệm.

Trong giai đoạn đầu nuôi tôm ấu trùng (từ giai đoạn PL-1 cho đến PL-30), tôm thường được nuôi trong hệ thống nước sạch với việc bổ sung các loại thực phẩm như thực vật phù du, động vật phù du (Artemia sp), thức ăn công nghiệp, và sử dụng tỷ lệ trao đổi nước cao. Thức ăn thay thế có thể là sự kết hợp của các hệ thống BFT đối với giai đoạn đầu đời. Tuy nhiên, thông tin về tiêu thụ và đồng hóa bioflocs bởi ấu trùng tôm nhỏ và trưởng thành là cần thiết.


Sản xuất thức ăn tươi sống cho nghiên cứu. A & B: Nuôi Artemia; C & D: nuôi vi tảo; E: Thu hoạch Artemianauplii được tách màng bọc.

Kỹ thuật đồng vị ổn định được sử dụng như một bổ sung cho các kỹ thuật thông thường trong nghiên cứu chế độ ăn uống, vì nó có thể hiển thị tỷ lệ của mỗi con mồi/thức ăn đồng hóa vào chế độ ăn động vật ăn thịt động vật. Nguyên tắc của kỹ thuật này là đồng vị ổn định các yếu tố hóa học khác nhau trong mô động vật phản ánh tỷ lệ hiện tại ở thực phẩm tiêu dùng, và điều này được bảo đảm như một dấu hiệu đặc trưng trong các mô hình mới của động vật tiêu thụ.

Thiết lập nghiên cứu

Quản lý hệ thống nuôi.

Thí nghiệm kéo dài 30 ngày, bắt đầu với ấu trùng tôm một ngày tuổi (PL1) và sử dụng hai chiến lược khác nhau để kiểm soát ammonia khi nồng độ đạt 0,5 mg / L. Các chiến lược đầu tiên trao đổi nước với tỉ lệ khoảng 70 phần trăm tổng khối lượng (điều trị kiểm soát), và chiến lược thứ hai bao gồm phân bón hữu cơ với dextrose (điều trị BFT) không có trao đổi nước.

Trong cả hai phương pháp điều trị, tôm được cho ăn ba thức ăn công nghiệp khác nhau (CF), theo giai đoạn phát triển chăn nuôi; tôm được cho ăn ba lần mỗi ngày với thức ăn công nghiệp, và một lần với Artemia sp nauplii đông lạnh. Vi tảo haetoceros muelleri được cấy vào các bể thí nghiệm trong ngày thử nghiệm đầu tiên ở nồng độ 5 x 104 tế bào/ml.


Xử lý mẫu phân tích đồng vị ổn định.

Để giám sát chất lượng nước, oxy hòa tan, nhiệt độ và độ pH được đo hàng ngày. Amoniac (N- (NH3 + NH4 +)) được phân tích hai ngày một lần. Đo nitrit (N-NO2-) và phosphat (P-PO43) hàng tuần. Độ kiềm (mg / L CaCO3) và nitrat (N-NO3-) được xác định trong mẫu ban đầu và cuối cùng. Hiệu suất tăng trưởng của động vật thử nghiệm được đánh giá bởi kích thước, trọng lượng và khả năng sinh tồn.

Mẫu các nguồn thực phẩm khác nhau, bioflocs và ấu trùng tôm được thu thập vào ngày thí nghiệm thứ 10, 20 và 30 để xác định giá trị đồng vị cacbon và nitơ. Tất cả các mẫu được nghiền, cân và đặt vào viên nang đóng hộp. Các phân tích tỷ lệ đồng vị carbon (13C / 12C) và nitơ (15N / 14N) được thực hiện tại cơ sở đồng vị ổn định UC Davis, CA, USA. Mô hình Bayesian của hỗn hợp đồng vị (gói SIAR) được sử dụng để xác định sự đóng góp tương đối nguồn thức ăn đến sự tăng trưởng của tôm trong giai đoạn nuôi khác nhau.

Kết quả và triển vọng

Suốt cuộc thử nghiệm, không có sự khác biệt trong các thông số hiệu suất phân tích đối với ấu trùng tôm (Bảng 1), hoặc trong các thông số chất lượng nước (Bảng 2), tất cả vẫn nằm trong giá trị được đề xuất cho L. vannamei. Thức ăn công nghiệp có xu hướng đóng góp tích cực cho động vật trong cả hai phương pháp điều trị (hình 1 và 2). Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng sự đóng góp bioflocs là khoảng 50 phần trăm (Hình 2). Trong điều trị BFT, bioflocs xuất hiện đóng một vai trò quan trọng trong hiệu suất ấu trùng L. vannamei. Các vi tảo cũng có đóng góp tương tự khi so sánh với bioflocs trong điều trị BFT, và trong cả hai phương pháp điều trị, vi tảo được đồng hóa hơn so với Artemia sp. nauplii.

Hình. 1 (bên trái): giá trị trung bình (tỷ lệ x 100 phần trăm) của sự đóng góp các nguồn thực phẩm khác nhau được cung cấp cho ấu trùng tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương trong sản xuất ở CT (Điều trị kiểm soát) vào ngày thứ 30. Hình. 2 (bên phải): giá trị trung bình (tỷ lệ x 100 phần trăm) của sự đóng góp các nguồn thực phẩm khác nhau được cung cấp cho ấu trùng tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương trong sản xuất ở CT (Điều trị bioflocs) vào ngày thứ 30.

Bảng 1

Tìm kiếm:

Phương pháp điều trị CT BT
Tỷ lệ sống sót (%) 93.2 ± 7.11 91.2 ± 8.53
Sinh khối ban đầu (g) 0.065 ± 0.002 0.065 ± 0.002
Sinh khối cuối cùng (g) 3.16 ± 0.7 3.14 ± 0.44

Giá trị hiệu suất (trung bình ± SD) của ấu trùng tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương trong CT và BT.

Bảng 2

Phương pháp điều trị CT BT
Nhiệt độ (độ C) 27.8 ± 1.14 28.13 ± 1.33
Oxy (mg L-1) 5.72 ± 0.4 5.73 ± 0.49
Độ mặn 30.16 ± 0.98a 31.33 ± 0.52b
pH 8.05 ± 0.24 8.04 ± 0.23
Độ kiềm  (mg L-1 như CaCO3) 248.75 ± 2.5a 112.5 ± 14.43b
Phosphate (mg L-1) 0.99 ± 0.6 1.93 ± 1.21
Ammonia (mg L-1) 0.65 ± 0.15 0.65 ± 0.1
Nitrite (mg L-1) 0.7 ± 0.15a 1.34 ± 0.3b
Nitrate (mg L-1) 1.32 ± 1.17 1.9 ± 2

Tìm kiếm:

– Giá trị (trung bình ± SD) cho các biến lý-hóa học của chất lượng nước được theo dõi trong các thử nghiệm ấu trùng tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương đối với CT và BT.

– Quan sát cho thấy Artemia sp. đóng góp ít hơn so với các nguồn thực phẩm khác trong sự phát triển ấu trùng (hình 1 và 2). Mặc dù đang có lợi thế về tài chính để giảm việc sử dụng của nó nhưng không biết tỷ lệ nào hoặc bất kỳ tác động trực tiếp nào giảm việc sử dụng Artemia sp có thể gây ra trong ấu trùng tôm, vì nguồn thực phẩm này cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển trong giai đoạn đầu đời của tôm he.

– Trong giai đoạn nuôi đầu tiên, ảnh hưởng của thức ăn trơ (hoặc thức ăn công nghiệp) vào sự tăng trưởng của ấu trùng L. vannamei tăng theo thời gian, nhưng động vật nhỏ trong sự hiện diện của bioflocs có thể thu được lợi ích dinh dưỡng cũng như tăng trưởng của chúng. Ngoài tăng dinh dưỡng này, bón phân với nguồn carbon có thể làm giảm lượng nước sử dụng trong giai đoạn ấp trứng / giai đoạn nuôi đầu tiên.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tieu-thu-biofloc-boi-au-trung-tom-the-chan-trang-thai-binh-duong-57fef468e495195f368b456b.html

Biện Pháp Phòng Và Khắc Phục Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng Ở Tôm Sú

Ở tôm sú, bệnh thường hay gặp nhất, khó ngăn ngừa và điều trị là bệnh thân đỏ đốm trắng. Theo các công trình nghiên cứu, tất cả các giai đoạn phát triển của tôm đều có thể nhiễm bệnh này. Giai đoạn phát triển mạnh nhất là từ tháng nuôi đầu tiên đến tháng nuôi thứ hai trong ao nuôi tôm thịt.

Biện Pháp Phòng Và Khắc Phục Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng Ở Tôm Sú

Gây bệnh đốm trắng ở tôm sú do một loại virus có tên khoa học Systemic Ectodermal and Mesodorma Baculoviras (SEMBV). Virus này nhiễm cảm ở một số mô của nhiều cơ quan khác nhau có nguồn gốc trung bì và ngoại bì như: mang, lớp biểu bì mô của vỏ, thần kinh, dạ dày và một số cơ quan khác trên con tôm. tag: máy thổi khí at

Trên thực tế, dù có phương pháp ngăn ngừa tốt như thế nào thì điều kiện tôm bị virus SEMBV vẫn tồn tại, đôi lúc người nuôi điều trị bằng thuốc và hóa chất cũng không ổn. Bởi vậy, việc có thể làm là ngăn chặn, tránh lây lan từ ao nuôi này sang ao nuôi khác.

Các kết quả nghiên cứu cho biết, hiện nay bệnh đốm trắng ở tôm sú có 3 nguyên nhân gây bệnh, đó là do nhiễm virus, do môi trường và nhiễm khuẩn. Tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do môi trường và nhiễm khuẩn có thể xử lý, khắc phục được, còn tôm bị nhiễm bệnh do virus SEMBV thì chưa có biện pháp hữu hiệu để điều trị.

Tôm sú bị nhiễm bệnh đốm trắng có những dấu hiệu như: tôm dạt vào bờ; trên thân tôm xuất hiện nhiều các đốm trắng tròn to, nhỏ khác nhau; khả năng tiêu thụ thức ăn bị giảm sút nghiêm trọng, đa phần tôm dạt vào bờ đều có ruột rỗng, không có thức ăn; tôm chết hàng loạt, có thể chết hết từ 5 – 7 ngày sau khi bị nhiễm bệnh.

Nhiều công trình nghiên cứu đã tìm ra các loại hóa chất để diệt virus SEMBV gây bệnh thân đỏ đốm trắng ở con tôm sú như: Formaline (70ppm), thuốc tím (10ppm), acid phoraccitic (8ppm)…

Về nguyên tắc, nếu xử lý các loại hóa chất này xuống ao nuôi đang có tôm bị nhiễm bệnh thì có thể tiêu diệt được virus SEMBV, tôm bị nhiễm bệnh vẫn có thể nuôi cho đến khi thu hoạch. Nhưng trên thực tế, điều này rất tốn kém và không hiệu quả. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh có vai trò rất quan trọng trong nuôi trồng.

Để phòng bệnh, ao trước khi đưa vào nuôi phải được tẩy dọn kỹ, vét sạch chất thải từ vụ nuôi trước để lại, phơi đáy ao từ 5 – 7 ngày, dùng Fomaline để tẩy diệt virus trong ao và các mầm bệnh khác; chọn tôm giống khỏe bằng phương pháp PCR; không thay nước trực tiếp từ biển, mỗi ao nuôi cần phải có một ao chứa nước riêng biệt, trước khi đưa vào nuôi phải được xử lý bằng Fomaline 10ml/m3 hay Clorine 10 – 15ml/m3 ngay trong ao chứa; hàm lượng oxy hòa tan phải lớn hơn 3mg/l, độ pH từ 7,5 – 8,5; ngăn chặn và loại bỏ tất cả các loài giáp xác trong ao nuôi và trong ao chứa bằng biện pháp tẩy dọn, diệt tạp và lọc nước kỹ trước khi đưa vào ao; giữ nền đáy ao sạch sẽ trong suốt chu kỳ nuôi và cho thức ăn tổng hợp có bổ sung một lượng vitamin C từ 2 – 4g/kg thức ăn để tăng sức đề kháng cho tôm.

Nếu phát hiện tôm bị nhiễm bệnh thân đỏ đốm trắng do nhiễm virus, trong trường hợp tôm đã đạt kích cỡ thương phẩm thì nên thu hoạch ngay, sau đó dùng Fomaline hay Clorine liều cao để xử lý nước trong ao trước khi xả ra môi trường. Trong trường hợp tôm chưa đạt kích cỡ thương phẩm thì nên dùng Fomaline phun trực tiếp xuống ao với nồng độ từ 15 – 30ml/m3 để tiêu diệt virus tự do ngoài môi trường và tiêu diệt luôn cả những con tôm bị nhiễm virus, sau đó cần xử lý tôm chết và tiến hành thay nước sạch.

Khi tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do độ pH cao thì có thể tìm mọi cách làm giảm độ pH cho phù hợp từ 7,5 – 8,5 như: thay nước mới, dùng Fomaline với nồng độ từ 3 – 4 (ppm), dùng vôi để ổn định độ pH nước trong ao nuôi. Trong trường hợp tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do cảm nhiễm vi khuẩn thì biện pháp khắc phục duy nhất là thu gom tôm chết, tôm yếu dạt vào bờ; cải thiện ao nuôi bằng cách làm sạch đáy bằng máy sục khí và ổn định sự phát triển của tảo; dùng Fomaline có nồng độ từ 10 – 15ml/m3 phun xuống ao để tiêu diệt vi khuẩn ngoài môi trường, sau 12 giờ tiến hành thay nước sạch và cho tôm ăn liên tục 5 ngày kết hợp với kháng sinh Furazolidon hoặc Oxytetracylin với liều lượng 40 – 50mg/kg tôm/ngày.

Ngày nay, để phát hiện tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, người ta thường dùng phương pháp kiểm tra bằng máy PCR theo từng thời kỳ. Nếu máy cho kết quả (+) thì ao nuôi đã bị nhiễm bệnh, kết quả (-) thì ao nuôi đang trong thời kỳ an toàn. Khi phát hiện ra tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, điều vô cùng quan trọng là phải có biện pháp ngăn chặn, không cho lây sang các ao khác. Biện pháp này sẽ giảm được thiệt hại rất nhiều đối với nghề nuôi tôm sú.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bien-phap-phong-va-khac-phuc-benh-than-do-dom-trang-o-tom-su-3945.html

Nuôi Vỗ Tôm Sú Bố Mẹ Theo Qui Trình Lọc Sinh Học

Hiện nay các cơ sở sản xuất tôm giống chủ yếu tập trung nuôi vỗ thành thục trong bể xi măng. Tài liệu này xin đề xuất thêm phương pháp nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ trong hệ thống lọc sinh học tuần hoàn nước như sau:

Nuôi Vỗ Tôm Sú Bố Mẹ Theo Qui Trình Lọc Sinh Học

Thiết kế trại tôm mẹ

Trại tôm mẹ được thiết kế cần 10 – 15% diện tích mái lợp sử dụng tol nhựa mờ, xung quanh bể che kín là đủ ánh sáng cần thiết cho quá trình nuôi vỗ

– Bể nuôi vỗ: Thường sử dụng bể nhỏ có thể tích 100 – 500 lít được nối với hệ thống lọc sinh học bằng 15 – 20% tổng thể tích bể nuôi.

– Bể nuôi tôm đực và giao vĩ: Bể có dạng hình tròn, thể tích từ 1 – 2 m3, chiều cao 0,8 – 1 m được nối với hệ thống lọc sinh học

– Bể đẻ: Thường có thể tích 0,5 – 1 m3, có dạng hình tròn, đáy bằng để cho quá trình sục khí cung cấp ôxy cho trứng được phát triển đồng đều hơn. tag: máy thổi khí at

Chọn tôm bố mẹ:

Tiêu chuẩn chọn tôm bố mẹ rất quan trọng:

– Về hình thái: Tôm khoẻ mạnh, màu sắc rực rỡ, không bị tổn thương, bị bệnh hoặc có màu đỏ sậm, đặc biệt con cái có túi tinh ở cơ quan sinh dục, nếu tôm có xuất hiện đường trứng càng tốt

– Về trọng lượng: Tôm đực có trọng lượng trên 80gam, tôm cái trên 160 gam.

Cách vận chuyển:

– Phương pháp vận chuyển kết hợp với sục khí (dùng sục khí chạy bằng pin) và thùng xốp 40cm x 60cm, mức nước 10 cm, mật độ 4 đến 6 con.

– Phương pháp vận chuyển bằng ô xy (dùng túi nilon 40cm x 90cm), mật độ 4 đến 6 con. Dùng nhựa mềm đường kính 5 mm cắt thành đoạn 2 cm gắn vào chuỹ tôm trước khi đóng bao.

– Thời gian vận chuyển không quá 48 giờ

– Nhiệt độ khi vận chuyển 20 – 220C, nên thuần hoá tôm mẹ trong 15 – 30 phút trước khi thả vào bể nuôi vỗ nhằm giúp tôm quen dần với môi trường mới.

Chăm sóc:

– Một số trại chỉ cho tôm cái đẻ vài lần sau khi cắt mắt, khi trứng thụ tinh kém (dưới 50%), trại sẽ không sử dụng số tôm mẹ đó nữa, một số trại nuôi vỗ tôm mẹ đòi hỏi có tôm đực với tỷ lệ đực cái 1:1

– Nuôi vỗ thành thục tôm mẹ trong bể 100 lít – 150 lít (mỗi con tôm mẹ 1 bể) để dễ dàng chăm sóc.

Cắt mắt: Có nhiều cách để cắt mắt (dùng kẹp để cắt mắt, buộc cuốn mắt hay bóp cầu mắt). Khi thực hiện các phương pháp này phải chọn tôm ăn mạnh và đã lột xác ít nhất 5 ngày. Cắt mắt nhằm thúc đẩy sự thành thục mau chóng hơn thông qua tác động của tuyến nội tiết.

Dinh dưỡng: Bao gồm ốc mượn hồn, mực, trai, hào, sò và gan heo hay gan bò, lượng cho ăn chiếm từ 20 – 30% trọng lượng cơ thể, thời gian cho ăn chia làm 8 lần trong ngày/đêm (cứ 3 giờ cho ăn 1 lần). Chú ý không nên để thức ăn quá 2 giờ).

Môi trường: Cho vận hành hệ thống lọc sinh học đảm bảo thay 200 – 300% lượng nước trong bể nuôi vỗ trong 1 ngày đêm, nhiệt độ 28 – 300C, độ mặn 30 – 33%o.

Kiểm tra sự thành thục: Sau cắt mắt 3 ngày kiểm tra khi thấy bề rộng buồng trứng trên 5 mm thì chọn cho đẻ.

Cho tôm đẻ: Bể cho tôm đẻ có hình tròn thể tích 0,5 – 1 m3, mức nước trong bể sâu 70 cm, bể được xử lý Formalin 150 ppm trong 30 phút, mỗi bể chứa 1 con cái, bể đẻ phải được sục khí liên tục nhẹ đều. Trứng sẽ nở sau khi đẻ 12 – 15 giờ; định lượng ấu trùng sau khi nở để chủ động bể ương và thuận lợi kiểm soát trong quá trình chăm sóc.

Môi trường nuôi tôm mẹ phải bảo đảm các yếu tố sau:

– Độ mặn 28 – 35%o; nhiệt độ nước 25 – 300C; pH 7,5 – 8,5; KH 100 – 120; chu kỳ chiếu sáng tự nhiên; cường độ chiếu sáng (lux); ô xy hoà tan (ppm) >5; đạm tổng (ppm) < 0,5; nitrite (ppm) < 0,1.

– Hàng ngày thay nước 100 – 100%, ít nhất 60 – 70% hoặc dùng lọc sinh học tuần hoàn, mực nước trong bể nuôi vỗ 0,3 – 1m, tránh tiếng ồn hay động tôm, không làm sốc hay gây tổn thương cho tôm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôm phát dục thành thục tốt.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-vo-tom-su-bo-me-theo-qui-trinh-loc-sinh-hoc-3958.html

Sản Xuất Tôm Giống Bằng Công Nghệ Hoạt Hoá

Anonit là một loại dung dịch được tạo ra nhờ công nghệ hoạt hoá, điện hoá nước muối loãng, trên một thiết bị đặc biệt (gọi là ECA). Đây là công nghệ mới được Trung tâm Công nghệ cao (Trung tâm KHTN&CNQG) tiếp nhận của Nga từ cuối 2002 và tạo ra bước đột phá trong việc sản xuất tôm giống năng suất cao mà không dùng kháng sinh và hoàn toàn sạch bệnh. Ứng dụng công nghệ hoạt hoá, điện hoá trong khử trùng bể trước khi thả tôm, cho thấy quá trình khử trùng nhanh hơn, triệt để hơn khi dùng các hoá chất khác nên tiết kiệm thời gian. tag: máy thổi khí at

Sản Xuất Tôm Giống Bằng Công Nghệ Hoạt Hoá

Sau khi khử trùng dung dịch anonit không để lại lớp cặn hoá chất dư trên bề mặt bể, nên không tốn nhân công cọ rửa thường xuyên như trước đây; trong khử trùng nước cũng đã tạo ra một nguồn nước sạch, không để lại một chút hoá chất nguy hại nào tồn dư trong nước, nên hoàn toàn thích hợp với ấu trùng tôm cũng như các động thực vật thuỷ sinh phát triển.

Thay thế hoàn toàn các chất khử trùng khác thường dùng trong các bể nuôi tôm như Clorin phormanin. Dung dịch anonit có thể sử dụng trong hầu hết quá trình phát triển nhiều giai đoạn của tôm giống, có tác dụng hạn chế tối đa sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh, diệt được trùng loa kèn và các loại nấm trong nước, giúp phá huỷ một phần và làm đông tụ các chất thải, làm cho quá trình xiphong chất thải hiệu quả hơn, cải thiện rõ môi trường. Dung dịch anonit có tác dụng điều chỉnh pH thích hợp cho sự phát triển của tôm con, không cho phép tạo ra mảng sinh học trên bề mặt ống sục khí (là nơi khu trú cho vi khuẩn). Ngay cả trong trường hợp tôm sú giống bị chết không rõ nguyên nhân, việc xử lý bể nuôi bằng dung dịch này cũng có thể bảo vệ được số tôm khoẻ, hạn chế thiệt hại cho nhà sản xuất.

Sử dụng anonit tắm cho tôm bố mẹ sẽ tiêu diệt được các mầm bệnh ký sinh trên vỏ tôm, phá huỷ lớp nhầy nhớt thường thấy trên vỏ tôm, giảm bớt khả năng lây bệnh từ môi trường sống của tôm bố mẹ sang tôm con. Khi sử dụng anonit khử trùng thức ăn có thể tiêu diệt các loài vi khuẩn, vi trùng có trong thức ăn, kể cả trùng loa kèn thường ký sinh trên ấu trùng atermila, do đó hạn chế tối đa khả năng nhiễm bệnh qua đường thức ăn. Như vậy công nghệ ECA cho phép tiêu diệt được đồng thời cả vi trùng, virus và nấm gây bệnh, nên nó có thể thay thế hầu hết các chất khử trùng truyền thống khác.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/san-xuat-tom-giong-bang-cong-nghe-hoat-hoa-3959.html