Monthly Archives: August 2017

Dinh dưỡng cho ấu trùng tôm

Một nguồn cung cấp hậu ấu trùng (PL) chất lượng cao là một yêu cầu cần thiết để đảm bảo một tương lai bền vững cho việc sản xuất tôm. Trại giống trở thành nguồn cho PL trong ngành công nghiệp này. Người ta ước tính rằng trong năm 2002, hơn 11.500 trại giống sản xuất ra 220.000 triệu PL trên toàn thế giới. tag: máy thổi khí at

Dinh dưỡng cho ấu trùng tôm

Chế độ ăn uống microbound cho hậu ấu trùng được thực hiện bằng cách sử dụng những kỹ thuật chế biến thức ăn khác nhau. 

Khi sự cung cấp PL tăng lên, người ta sẽ quan tâm nhiều hơn vào chất lượng của nó hơn là số lượng. Nuôi trồng PL chất lượng tốt đòi hỏi sử dụng các loại thức ăn có chất lượng cao và cách cho ăn tối ưu. Không có gì đáng ngạc nhiên khi vào năm 2001, nghiên cứu về tôm toàn cầu OP được thực hiện bởi Liên Minh nuôi trồng thủy sản toàn đầu, đưa những kỹ thuật nuôi tôm giống vào ưu tiên hàng đầu để nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực dinh dưỡng.

Khi ngành công nghiệp có xu hướng kiểm soát dưới mức độ cao cấp hơn và sử dụng những những trữ lượng thuần hóa, những đòi hỏi cao hơn sẽ được thực thiện trong dinh dưỡng để hỗ trợ cho hiệu suất tối ưu. Cho đến nay, nhiều công tác đã được thực hiện để cải thiện chăn nuôi nói chung và quản lý sức khỏe tốt hơn cho tôm bố mẹ và tôm ấu trùng, nhưng sự phụ thuộc nặng nề vào các sinh vật thức ăn tươi sống trong lĩnh vực dinh dưỡng dành cho ấu trùng cho thấy rằng, vẫn còn nhiều việc cần phải thực hiện trước khi chế độ ăn có thể tối ưu hóa để đạt được hiệu suất nhất quán.

Công thức cho ăn ấu trùng. 

Thông thường, giai đoạn ấu trùng của sinh vật biển được cho ăn thức ăn sống như tảo, động vật phù du, luân trùng, và Artemia. Mặc dù thức ăn sống cung cấp một nguồn dinh dưỡng tuyệt vời, nhưng vẫn còn một vài hạn chế liên quan đến điều này.

Ấu trùng zoea. Giai đoạn ấu trùng và trước PL yêu cầu thức ăn dạng hạt siêu nhỏ với thành phần dinh dưỡng và tính chất vật lý cụ thể. Ảnh của Patricio Rafael.

Việc nuôi tảo đòi hỏi một chuyên môn đáng kể để duy trì tình trạng dinh dưỡng cao nhất, và cơ sở vật chất cho việc sản xuất hàng loạt có thể sẽ rất tốn kém để hoạt động. Luân trùng đòi hỏi phải bỏ thời gian và công sức một cách đáng kể để duy trì, và Artemia nauplii sống thì chịu từ nguồn cung cấp không thích hợp.

Trong những năm gần đây, giá thị trường dành cho tôm PL thấp và các chi phí biến động của thức ăn tươi sống đã khiến nhiều kỹ thuật sản xuất giống quyết định cắt việc sử dụng bào sát Artemia. Khi kết hợp với việc sử dụng những thức ăn thay thế không tương xứng, điều này đã gây ra hậu quả khả năng sống thấp, và chất lượng hậu ấu trùng thấp.

Trong một số trường hợp, đặc biệt là với luân trùng và Artemia, chất béo căn bản không đủ, đặc biệt liên quan đến axit béo không bão hòa cao (HUFAs). Những công tác để làm tăng cao đã được phát triển như một  phương tiện để khắc phục tình trạng thiếu dinh dưỡng này.

Việc tăng cường thường liên quan đến việc làm tăng các docosahexaenoic (DHA) và axit eicosapentaenoic (EPA) có trong những thức ăn tự nhiên thông qua “bioencapsulation.”. Các sinh vật sống được nuôi dưỡng dưới công thức tăng cường DHA/EPA để làm tăng nồng độ trong mô của chúng, và các sinh vật đã làm tăng cường sẽ được cho ấu trùng ăn. Trong ấu trùng tôm, việc sử dụng Artemia đã được tăng cường được giới hạn trong giai đoạn hậu ấu trùng vì kích thước lớn của giai đoạn cho ăn đầu của Artemia

Sự phát triển của công thức chế độ ăn của ấu trùng hoàn toàn được thay thế bằng thức ăn sống là một mục tiêu khó nắm bắt, mặc dù có nhiều nỗ lực đáng kể. Những khó khăn vốn có trong việc cung cấp một gói dinh dưỡng hoàn chỉnh trong những hạt đủ nhỏ để được hấp thụ vào tiêu hóa bởi các ấu trùng nhỏ của các sinh vật biển là khá rõ ràng. Mất chất dinh dưỡng từ chế độ ăn uống như thế có thể diễn ra nhanh chóng và kết quả là mất những giá trị dinh dưỡng và gây mùi từ môi trường nuôi trồng. Mặt khác, việc cũng cấp một lớp phủ chống thấm để ngăn chặn sự rò rỉ có thể dẫn đến khả năng tiêu hóa kém và hiệu quả có dinh dưỡng để ấu trùng phát triển.

Các loại thức ăn. 

Trên thị trường có nhiều loại thức ăn thương mại dành cho ấu trùng. Chúng bao gồm chế độ ăn microbound, mảnh, và dạng hạt, thức ăn microencapsulated, và thức ăn dạng lỏng. Thức ăn microbound sử dụng hàng loạt chất kết dính để sản xuất ra một loại hạt nhỏ vỡ vụn ra ở những kích thước hợp lý. Dạng mảnh thường được dùng ở Châu Á và Châu Mỹ.

Để sản xuất ra dạng mảnh, thành phần thức ăn được thêm vào nước để thu được một loại súp đặc, kết quả tạo thành một thể vẩn bơm một máy sấy hơi nước. Những mẩu lớn có thể được nghiền nát và đưa qua một tấm lưới thích hợp ngay trước khi được sử dụng.

Thức ăn dạng hạt được sản xuất bằng cách sử dụng chất kết dính lỏng, và nước được xịt lên hỗn hợp thức ăn, kết quả là hạt với cấu trúc giống như quả mâm xôi. Thức ăn Microencapsulated có một lớp phủ bên ngoài dạng viên nang và chứa các nguyên liệu bên trong. Thức ăn lỏng có bản chất là bùn của các hạt dưới dạng thể vẩn trung gian.

Thành phần và các hạt thức ăn dinh dưỡng mang đặc tính giống như hương vị thức ăn, ngon, sự đóng cặn của thức ăn hạt, và sự ổn định của nước bị ảnh hưởng một cách đáng kể bởi các loại chế biến thức ăn chăn nuôi được áp dụng bởi những nhà sản xuất thức ăn.

Cân nhắc trong việc phát triển thức ăn. 

Dinh dưỡng của ấu trùng biển liên quan đến sự hiệu biết về quá trình vận hành cơ khí, và quá trình sinh lý trong việc cho ăn động vật nuôi. Có thể sẽ rất khác nhau ở các giai đoạn ấu trùng so với dạng trưởng thành. Thói quen cho ăn của nhiều loại cho thấy sự thay đổi khác biệt trong quá trình ấu trùng phát triển.

Đối với tôm he, nhiều loại thay đổi từ một chế độ ăn uống chủ yếu ăn thực vật trong giai đoạn zoea (tiền ấu trùng) đến chế độ ăn tạp trong giai đoạn hậu ấu trùng. Trong suốt giai đoạn hậu ấu trùng và giai đoạn thiếu niên, có những thay đổi đổi lớn có thể liên quan đến sự thay đổi để chuyển sang chế độ ăn thịt hay ăn khuẩn, dựa theo từng loài. Những thay đổi khác được xem xét trong một vài ngày sau khi nở là những sinh vật phù du tồn tại dưới đáy, và từ bộ lọc thức ăn đến ăn thịt.

Một trong những cân nhắc chính là sự phát triển của cấu trúc và chức năng đường ruột. Động vật giáp xác ấu trùng có cấu trúc đường ruột đơn giản và dần dần trở nên phức tạp hơn. Sinh lý của đường ruột và enzymes đường ruột cũng thay đổi và vì thời gian vận chuyển có thể ngắn, nên thiết kế một chế độ ăn uống đầy dinh dưỡng và dễ tiêu hóa cũng là một thách thức.

Chất béo (Lipids)

Nhiều công tác trong việc cho ấu trùng ăn tập trung vào các yêu cầu cho HUFAs và phospholipids. Cả DHA và EPA rất cần thiết cho sự phát triển bình thường và phát triển của nhiều loài cá biển và động vật giáp xác. Mặc dù yêu cầu về số lượng cho axit béo thiết yếu rất ít khi được báo cáo trên ấu trùng tôm he, 1% n-3 HUFA trong khẩu phần ăn có thể được xem là giá trị tối thiểu cho PL.

Mặc dù có ít nghi ngời rằng ấu trùng giáp xác có thể tổng hợp lipid phốt pho từ HUFAs, việc bổ sung các nguồn thực phẩm có lipid phốt pho đã được chứng minh là mang lại lợi ích, có thể thông qua việc tăng cường hấp thu cholesterol và triacylglycerols

Dường như không có yêu cầu cho phosphatidyletanolamine hay phosphatidylinositol trong chế độ ăn uống phosphatidylcholine đầy đủ. Tôm chân trắng ở Thái Bình Dương, tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei), PL được cho ăn với chế độ có chứa lipid phốt phô đã chứng minh được có cải thiện trong tăng trưởng, mặc dù những phot pho lipid khác trong lecithin không thể bù đắp cho sự thiếu hụt phosphatidylcholine. Trong ấu trùng tôm kuruma, tôm he Nhật Bản, sự biến hình tối ưu thu được với chế độ ăn có chứa 15-30g/kg phosphatidylcholine đậu nành, với mức 15g/kg có lợi hơn cho PL. Nhu cầu cho phốt pho lipid của ấu trùng giáp xác thường là trong vòng 1-3%.

Protein và axit Amin. 

Mức protein tối ưu trong khẩu phần ăn của ấu trùng dự kiến có thể sẽ thay đổi tùy loài, giai đoạn ấu trùng, và nguồn protein tiêu hóa, và thành phần axit amin. Mức protein trong thức ăn của ấu trùng được khuyến cáo trong vòng 23-57%. Bảng 1 cung cấp một cái nhìn tổng quan về các báo cáo dinh dưỡng trên nhãn và bảng kỹ thuật của thức ăn thương mại cho tôm.

Estimated Composition Zoea-Mysis Feeds Number Samples Postlarvae Feeds Number Samples
Protein (% of dry weight) 45-57 11 43-60 41
Lipid (%) 10-29 11 3-19 40
Ash (%) 7-18 11 5-16 38
Starch (%) 2-12 6 1-21 19
Fiber (%) 3 1.2-9.4 12
Moisture (%) 3-8 9 3-11 33
HUFA (mg/g) 1.5-3 7 2-3 13
DHA (mg/g) 1.3-2 7 0.14-1.3 23
EPA (mg/g) 1.1-5 7 0.12-6 22
Vitamin C (mg/kg) 1,000-4,500 5 975-4,500 14
Vitamin E (mg/kg) 400-500 5 150-500 15
Calcium (%) 0.7-5 10
Phosphorus (%) 0.5-2.1 10

 

Bảng 1: dự kiến thành phần của thức ăn thương mại khô dành cho tôm giai đoạn zoea-mysis và hậu ấu trùng. 

Có sự khác biệt trong báo cáo nhu cầu protein theo từng giai đoạn của ấu trùng của tôm thẻ trắng Đại Tây Dương và tôm thẻ chân trắng, ước tính từ 30% trong giai đoạn tiền ấu trùng (zoea) đến 50-60% trong gia đoạn mysis. Protein tối ưu: Tỉ trọng năng lượng và thành phần axit amin trong thức ăn cho tôm không được báo cáo lại.

Các axit amin thiết yếu được cho là tôm là methionine, arginine, threonine, tryptophan, histidine, isoleucine, leucine, lysine, valine, and phenylalanine.

Vitamins và khoáng chất. 

Vitamin tan trong chất béo và tan trong nước, cũng như carotenoids rất cần thiết cho ấu trùng tôm. Sự thiếu hụt vitamin có thể dẫn đến những triệu chứng khác nhau, nhưng cũng gây ra khả năng sống sót không cao.

Yêu cầu vitamin cơ bản được báo cáo cho tôm đỏ (P. japonicas) (bảng 2), nhưng những ước tính có thể bị ảnh hưởng bởi việc lọc các vitamin từ thức ăn thử nghiệm. Trong thực tế, thức ăn được làm cho ấu trùng tôm có chưa vitamin, và khoáng chất trộn lẫn được sử dụng như thức ăn cho tôm trưởng thành

Sản xuất lườn ấu trùng là nguồn cung cấp hạt giống chính cho ngành tôm. Ảnh của Patricio Rafael.

 

Vitamin Amount (mg/kg dry diet)
Thiamine HCl 4
Riboflavin 8
Pyridoxine HCl 12
Nicotinic acid 40
Biotin 0.2
Choline chloride 600
Inositol 200
Na-ascorbate 1,000
Tocopherol 20

Bảng 2: Yêu cầu vitamin cơ bản dành cho tôm đỏ. 

Những công tác ban đầu về yêu cầu vitamin C được tiến hành bằng cách sử dụng sodium ascorbate hơn là L-ascorbyl- 2-polyphosphate. Mặc dù có rất ít dữ liệu trong dinh dưỡng cho ấu trùng sử dụng vitamin C dạng này, những đòi hỏi vitamin C trong sản xuất tôm hậu ấu trùng được báo cáo ít nhất khẩu phần là 20 và 130mg AA/kg tương ứng cho tôm sú và tôm thẻ chân trắng, trong khi mức khẩu phần 2000mg AA/kg cần thiết để làm tăng sức đề kháng cho tôm giai đoạn hậu ấu trùng để nhấn mạnh điều kiện và các nhiễm khuẩn.

Carbohydrates, Nucleotides

Đối với động vật giáp xác trưởng thành, có vẻ như không có yêu cầu cụ thể cho carbohydrates trong khẩu phần ăn. Carbohydrates có thể được sử dụng để làm giảm chi phí thức ăn thông qua protein và lipid dư thừa, và thường được sử dụng như chất kết dính trong thức ăn của ấu trùng.

Nucleotides đã được chứng minh có nhiều tiềm năng trong việc cho ăn ở giai đoạn vị thành niên của động vật có xương sống. Những lợi ích tiềm năng của việc thêm khẩu phần Nucleotides để phát triển nhanh trong giai đoạn ấu trùng của động vật giáp xác sẽ xuất hiện tương tự. Tuy nhiên, không có dự liệu có sẵn trong việc ứng dụng các Nucleotides ngoại sinh trong việc nuôi trồng ấu trùng giáp xác.

Kết luận. 

Mặc dù kiến thức cơ bản hiện có cho phép xây dựng thích hợp khẩu phần thức ăn cho tôm, những nghiên cứu tiếp theo là cần thiết để tiến bộ hơn nữa. Ngoài ra, tính chất của thức ăn hạt nên được thiết kế để đáp ứng nhu cầu cụ thể của những loài, giai đoạn và môi trường chăn nuôi khác nhau bằng những lựa chọn đúng đắng trong kỹ thuật chế biến thức ăn.

Sự thay thế hoàn toàn thức ăn sống bằng thức ăn công thức đã có những báo cáo nhưng vẫn không thể áp dụng rộng rãi trên qui mô thương mại trong khi duy trì hiệu suất hậu ấu trùng phù hợp và chất lượng. Do sự phức tạp vốn có của việc cung cấp gói dinh dưỡng hoàn chỉnh trong một hạt nhỏ, mục tiều nay có thể sẽ đòi hỏi nghiên cứu âu dài và phát triển hơn nữa.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/dinh-duong-cho-au-trung-tom-58e5ad0de49519ba4e8b4571.html

Nhu cầu dinh dưỡng cho tôm thẻ chân trắng

Qua khảo sát về hàm lượng dinh dưỡng trong các loại thức ăn công nghiệp nuôi tôm tại Ấn Độ, nhóm nghiên cứu đã tìm ra được nhu cầu dinh dưỡng cần thiết với tôm thẻ chân trắng cũng như xu hướng sản xuất thức ăn hiện nay. tag: máy thổi khí at

Nhu cầu dinh dưỡng cho tôm thẻ chân trắng

Axit amino của 8 mẫu thức ăn thể hiện ở các màu khác nhau 

Phân tích

Nhóm nghiên cứu đã lấy 8 mẫu thức ăn của 8 thương hiệu nổi tiếng để phân tích nhu cầu chất dinh dưỡng cần thiết cho tôm như axit amio, phospholipid, cholesterol, n-3, và aixt béo không bão hòa.

Từ năm 2013, Nutriad đã nghiên cứu thành phần thức ăn công nghiệp cho tôm tại Ấn Độ. Nghiên cứu mới nhất (năm 2016) đã giới hạn mẫu thức ăn viên với kích thước 3P. Thức ăn viên 3P có các chỉ tiêu dinh dưỡng như sau: Protein thô (35 – 36%); béo thô (4,5 – 6%), tro thô (<13%) và xơ thô (2 – 5%). Những mẫu thức ăn này đều được sản xuất trong quý II/2016 và bảo quản trong điều kiện phòng thí nghiệm trước khi phân tích.

Protein thô được phân tích bằng phương pháp Kjedahl; chất béo thô được phân tích phương pháp Soxhlet; axit béo bằng phương pháp sắc ký khí dựa theo ly trích chất béo; cholesterol sử dụng phương pháp hóa xà phòng trực tiếp; phospholipids phân tích bằng phương pháp quang phổ 31P-NMR và phân tích axit amino và nitrogen được thực hiện bởi Evonik Degussa GmbH.

Protein thô và chất béo

Hàm lượng protein thô dao động 33,9 – 40,7%, trung bình 36,4 + 2,3%. 5 trong 8 mẫu thức ăn có thành phần protein cao hơn mức tối thiểu trên nhãn sản phẩm là 35%. Tính trung bình, các mẫu thức ăn đều có hàm lượng protein cao hơn thông số ghi trên nhãn là 4%.

Chỉ tiêu chất béo sẽ khác nhau giữa các hãng sản xuất thức ăn khác nhau, dao động 4,5 – 6%, mức phổ biến nhất là trên 5%. Tất cả thức ăn được phân tích đều có hàm lượng chất béo cao hơn 5%, đạt mức trung bình 6,18 + 0,54%, vượt 25% so chỉ tiêu ghi trên nhãn sản phẩm. Không có mối tương quan rõ nét giữa hàm lượng protein thô và béo thô cho thấy sự thiếu nhất quán giữa các chuyên gia dinh dưỡng về tầm quan trọng của tỷ lệ protein/chất béo trong khẩu phần ăn cho tôm.

Axit amino

Nhu cầu dinh dưỡng axit amino trong tôm khá phức tạp do tác động từ tính thấm của axit amino trước khi tiêu hóa. Những kiến thức hiện nay về nhu cầu axit amino trong tôm thẻ chân trắng vẫn rất hạn chế do còn thiếu nhiều nghiên cứu khoa học.

Trong khảo sát nói trên, hàm lượng lysine trung bình là 2,11 + 0,17% và methinonine 0,63 + 0,09%.  Hàm lượng axit arginine và axit amino trung bình là 2,41 + 0,12%.

Phospholipids, n-3 HUFA, cholesterol

5 trong 8 mẫu thức ăn có chứa 5 g/kg n-3 HUFA, trong khi hàm lượng béo thô dao động 5,8 – 7,1 g/kg (trung bình 6,18 + 0,54%); một mẫu thức ăn có chứa hơn 7 g/kg n-3 HUFA và 2 mẫu thức ăn còn lại có hàm lượng n-3 HUFA dưới 3 g/kg.

Khảo sát cho thấy nhu cầu cholesterol dao động 0,5 – 5 g/kg với tôm thẻ chân trắng. Trước đó, Duerr và Waldh (1996) chỉ ra hàm lượng cholesterol dưới 1 g/kg sẽ giới hạn tăng trưởng của tôm thẻ; Morris et al (2001) lại báo cáo nhu cầu cholesterol với tôm thẻ ở pha tăng trưởng dao động 0,76 – 1,1 g/kg. Một phân tích thống kê khác lại chỉ ra lượng cholesterol cần thiết để đảm bảo tăng trưởng tối ưu ở tôm thẻ phải là 1,5 g/kg. Gong et al. (2000) đã ước tính lượng cholesterol cần cho tôm thẻ là 3,5 g/kg trong trường hợp không bổ sung phospholipids. Với tỷ lệ 1,5 – 3% phospholipids, nhu cầu cholesterol đã giảm xuống lần lượt là 1,4 và 1,3 g/kg.

Lượng cholesterol trong những mẫu thức ăn được phân tích đều dưới 1 g/kg. 6 mẫu thức ăn chăn nuôi lượng cholesterol trung bình 0,64 g/kg + 0,16; 1 mẫu chứa 0,7 + 0,8 g/kg và một mẫu còn lại chứa 0,34 g/kg cholesterol.

Khảo sát cho thấy, thức ăn cho tôm thẻ bắt buộc phải bổ sung phospholipid mới đảm bảo tăng trưởng tối ưu cho vật nuôi. Ngoài ra, bổ sung 1,5% phosphatidyl choline (PC) từ 95% nguồn đậu nành tinh khiết, 94% trứng gà tinh khiết hoặc lecithin đậu nành (23% PC) cũng giúp tôm thẻ tăng trưởng tốt hơn hẳn chế độ ăn không bổ sung PC (Coutteau et al.1996). Hàm lượng khuyến nghị với phospholipids từ các nguồn đậu nành dao động 1,25 – 6,5%, tùy loại tôm nuôi, pha nuôi cũng như độ tinh khiết của lecithin. Hàm lượng trung bình của phospholipids trong khảo sát nói trên là 1,74% + 0,43 (min 1,13% – max 2,5%).

Xu hướng dinh dưỡng

Nếu so sánh với khảo sát tương tự năm 2014 có thể thấy nhu cầu protein thô trung bình đã tăng từ 35,8% tới 36,4%; hàm lượng chất béo thô vẫn ổn định 6,2%; hàm lượng n-3 HUFA và cholesterol lần lượt giảm 16% và 24%; trong khi lượng phospholipids tiêu thụ trung bình tăng 38%.

Dễ thấy, nhu cầu cholesterol và n-3 HUFA giảm chủ yếu do xu hướng thay thế dầu cá, bột cá bằng các loại đạm thực vật ngày càng phổ biến; bù lại, hàm lượng phospholipids và protein thô lại tăng. Tuy vậy, giảm lượng chất béo cần thiết như cholesterol, phospholipids và n-3 HUFA trong thức ăn hiện nay đã ảnh hưởng đáng kể tới tăng trưởng, tỷ lệ biến đổi thức ăn và hiệu quả protein trong tôm thẻ chân trắng. Những xu hướng này lại thúc đẩy việc sử dụng các loại phụ gia cải thiện khả năng tiêu hóa như muối mật. Ngoài ra, muối mật còn tạo ra chất thay thế hợp chất hữu cơ steroid mà tôm không tự tổng hợp được. Bổ sung muối mật vào khẩu phần ăn lipids thấp đã phục hồi khả năng tăng trưởng của tôm về mức tương tự như chế độ ăn chứa các chất béo thiết yếu. Nhờ đó, các công ty dinh dưỡng vẫn có thể tạo ra công thức thức ăn với chi phí tiết kiệm hơn nhờ cắt giảm phospholipids, cholesterol và n-3 HUFA mà không ảnh hưởng tới tăng trưởng của tôm.

> Mẫu thức ăn được phân tích có lượng dưỡng chất trung bình: 36,4 + 2,3% protein thô; 6,28 + 0,86% béo thô; 2,11 + 0,17% lysine; 0,36 + 0,09% methionine; 2,41 + 0,12% arginine; 4,42 g/kg + 1,74 g/kg n-3 HUFA; 0,64 + 0,16 g/kg cholesterol; 1,74 + 0,43% phospholipids. Xu hướng chung trong ngành dinh dưỡng từ giữa năm 2014 tới nay là sản xuất thức ăn chứa cholesterol và n-3 HUFA thấp hơn nhờ sử dụng các loại nguyên liệu có nguồn gốc thực vật thay thế động vật.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhu-cau-dinh-duong-cho-tom-the-chan-trang-59a61c6ce49519f6598b456c.html

Bệnh Còi

1. Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh MBV (Monodon Baculovirus) là virus type A  Baculovirus monodon, cấu trúc nhân (acid nucleoic) là ds ADN, có lớp vỏ bao, dạng hình que. Theo  J.Mari và CTV, 1993 thì chủng MBV của tôm sú từ ấn Độ Thái Bình Dương có kích thước nhân 42 ± 3 x 246 ± 15 nm, kích thước vỏ bao 75 ± 4 x 324 ± 33 nm. Chủng PMV của tôm (P.plebejus, P. monodon, P. merguiensis) từ úc có kích thước nhân 45-52 x 260-300 nm, kích thước vỏ bao 60 x 420 nm. tag: máy thổi khí at

Bệnh Còi

Virus ký sinh ở tế bào biểu mô hình ống gan tuỵ (Hepatopancreas) và tế bào biểu bì phía trước ruột giữa, virus tái sản xuất bên trong nhân tế bào vật nuôi, bao gồm các giai đoạn sau:

– Giai đoạn O (tiềm ẩn): Sau khi tế bào nhiễm MBV là giai đoạn sớm của tế bào chất biến đổi.

– Giai đoạn 1: Nhân tế bào sưng nhẹ, các nhiễm sắc thể tan ra và di chuyển ra sát màng nhân. Tế bào chất mất dần chức năng của chúng và hình thành giọt mỡ. Virus bắt đầu gây ảnh hưởng.

– Giai đoạn 2: Nhân sưng nhanh, số lượng virus tăng nhanh, xuất hiện thể ẩn (Occlusion bodies) trong nhân (hình 32).- Giai đoạn 3: tế bào bị bệnh, nhân tăng lên gấp 2 lần, đường kính bình thường và tăng 6 lần về thể tích. bên trong nhân có 1 đến nhiều thể ẩn (hình 37), trong thể ẩn chứa đầy các virus. Các virus phá huỷ các tế bào ký chủ, tiếp tục di chuyển sang tế bào khác hoặc theo chất bài tiết ra ngoài môi trường, tạo thành virus tự do tồn tại trong bùn và nước.

2. Dấu hiệu bệnh lý

Khi tôm mới nhiễm virus MBV, dấu hiệu bệnh không biểu hiện rõ ràng. Khi tôm nhiễm bệnh nặng và phát bệnh thường có biểu hiện một số dấu hiệu sau:

– Tôm có màu tối hoặc xanh tái, xanh xẫm. Tôm kém ăn, hoạt động yếu và sinh trưởng chậm (chậm lớn).

– Các phần phụ và vỏ kitin có hiện tượng hoại tử, có nhiều sinh vật bám (ký sinh trùng đơn bào, tảo bám và vi khuẩn dạng sợi).

– Gan tuỵ teo lại có màu trắng hơi vàng, thối rất nhanh.

– Tỷ lệ chết dồn tích, cao tới 70% hoặc có thể tôm chết hầu hết trong ao.

3. Phân bố và lan truyền bệnh

Bệnh MBV được phát hiện đầu tiên năm 1980 ỏ đàn tôm sú (Penaues monodon) đưa từ Đài Loan đến nuôi ở Mehico (Lightner và CTV, 1981, 1983). Tiếp theo các nhà nghiên cứu đã phát hiện bệnh MBV có xuất phát từ Đài Loan, Philippines, Malaysia, Polynesia thuộc Pháp, Singapore, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc…ở Đài Loan bệnh MBV có liên quan đến thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi tôm sú năm 1987 và 1988 (Chen và CTV, 1989). Cho đến nay người ta biết bệnh MBV phân bố rất rộng rãi: châu á, Thái Bình Dương, châu Phi, miền Nam châu Âu, châu Mỹ. Tôm sú (P. monodon) thường xuyên nhiễm bệnh MBV và một số tôm khác cũng nhiễm bệnh MBV: P. merguiensis, P. semisulcatus, P. kerathurus, P. plebejus, P. indicus, P. penicillatus, P. esculentus, P. vannamei (có khả năng). Virus MBV nhiễm từ Post-larvae đến tôm trưởng thành.

Bệnh MBV lan truyền theo phương nằm ngang, không truyền bệnh theo phương thẳng đứng.

Ở Việt Nam tháng 10-11/1994 Bùi Quang Tề lần đầu tiên đã nghiên cứu về mức độ nhiễm bệnh MBV trên tôm sú nuôi các tỉnh ven biển phía nam: Tôm sú nuôi nhiễm virus MBV khá cao: Tôm thịt ở Minh hải: 50-85,7%, ở Sóc Trăng 92,8%; Tôm giống ở Bà Rịa-Vũng Tàu 5,5-31,6%, tôm giống Nha Trang 70-100%. Bệnh MBV là một trong những nguyên nhân gây chết tôm ở các Tỉnh phía nam năm 1993-1994.

Tiếp theo Đỗ Thị Hoà từ tháng 11/1994-7/1995 cũng đã nghiên cứu bệnh MBV trên tôm sú nuôi ở các tỉnh Nam Trung Bộ, kết quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm virus MBV ở ấu trùng tôm sú là 33,8%, tôm giống là 52,5%, tôm thịt là 66,5%. Năm 1995 sơ bộ điều tra bệnh tôm sú nuôi ở các tỉnh phía Bắc đã nhiễm mầm bệnh MBV ở các tỉnh: Nghệ An, Thanh Hoá, Hải Phòng.

Vì những tỉnh này đều lấy tôm giống từ Nha Trang ra nuôi (Bùi Quang tề và CTV, 1997). Đến nay kiểm tra tôm post sản xuất từ miền Bắc ở Quảng Ninh đến các tỉnh phía Nam ở Cà Mau hầu hết chúng đều nhiễm mầm bệnh MBV, ở mức độ khác nhau. Bệnh MBV không làm tôm chết hàng loạt, nhưng làm tôm chậm lớn và chết rải rác. Khi thu hoạch tỷ lệ tôm sống rất thấp đây là vấn đề nan giải của nghề nuôi tôm biển ở các tỉnh ven biển.

 4. Chẩn đoán bệnh

Để chẩn đoán bệnh MBV và bệnh virus ở tôm he nói chung, chúng ta phải kiểm tra nhiều yếu tố: Quá trình nuôi tôm, dấu hiệu bệnh lý, mô bệnh học, dựa trên nguyên tắc sau:

– Thu mẫu bệnh soi qua kính hiển vi bằng mẫu nhuộm tươi và mẫu cắt mô bệnh học hoặc soi qua kính hiển vi điện tử.

– Làm tăng sự nhiễm bệnh để kiểm tra mô bệnh học và soi qua kính hiển vi hoặc qua kính hiển vi điện tử.

– Thực nghiệm sinh học gây cảm nhiễm bệnh nhân tạo bằng các mẫu tôm đã nhiễm bệnh cho đàn tôm khoẻ mạnh. Sau đó theo dõi các dấu hiệu bệnh lý và kiểm tra mẫu nhuộm tươi và mô bệnh học.

5. Phòng bệnh

Phòng bệnh là chính:

+ Không dùng tôm giống có nhiễm mầm bệnh MBV.

+ Tẩy dọn ao, bể nuôi như phương pháp phòng chung.

+ Nuôi tôm đúng mùa vụ, quản lý chăm sóc tốt, cung cấp đầy đủ thức ăn về chất và lượng. Không để tôm sốc trong quá trình nuôi.

+ Kiểm dịch đàn tôm bố mẹ trước khi cho đẻ.

+ Xử lý nước bằng tầng ôzôn và các chất sát trùng BKC trước khi ấp trứng thì có thể sản xuất được đàn tôm Postlarvae không nhiễm virus MBV.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-coi-3155.html

Bệnh Phát Sáng

Bệnh phát sáng xuất hiện quanh năm trên các loài tôm sú, thẻ, càng xanh… Bệnh có thể xảy ra trong tất cả các giai đoạn ương nuôi từ trứng đến tôm trưởng thành.

Bệnh Phát Sáng

Bệnh phát triển mạnh trong môi trường nước giàu dinh dưỡng, nhiều chất hữu cơ ở độ mặn cao, thiếu oxy hòa tan, lây lan nhanh trong mùa nóng.

Triệu chứng:

Tôm yếu, bơi không định hướng, tấp mé bờ, phản ứng chậm chạpMang và thân tôm có màu sẫm, bẩn, thịt đục màu. Gan viêm và teo nhỏ, mất chức năng tiêu hóa cho tôm. tag: máy thổi khí at

Ăn giảm, không có thức ăn và phân trong ruột, phân tôm trong nhá ít.Đầu, thân tôm phát sáng màu trắng – xanh lục trong bóng tối.
Quan sát bằng kính hiển vi thấy vi khuẩn phát sáng di chuyển trong cơ, máu tôm.Có đốm sáng rất nhỏ và nhiều trên phần cơ thịt của tôm
Tôm chậm lớn, có thể bị đóng rong ở mang và vỏ.Tôm chết đáy rải rác tuỳ vào mức độ nặng nhẹ của bệnh. Nếu nhiễm bệnh 100% đàn tôm trong giai đoạn 45 ngày nuôi đầu, có thể chết hàng loạt.
Tôm ấu trùng nhiễm bệnh có màu trắng đục, nhiễm bệnh nạng thì lắng dưới đáy bể ương và chết hàng loạt.

Phương pháp chẩn đoán bệnh:

– Nhận biết triệu chứng bệnh.

– Thử nghiệm bằng TCBS Agar test kit (dùng môi trường thiosulfate citrate bile sucrose agar) để phát hiện vi khuẩn.

Nguyên nhân:

Nhiễm vi khuẩn thuộc nhóm Luminescencet Vibrio: chủ yếu và gây nguy hiểm nhất là Vibrio harveyi. Các vi khuẩn này có enzyme Luciferase gây ra sự phát sáng.Là vi khuẩn gram âm G, phát triển nhanh ở độ mặn 10-40ppt (mạnh nhất ở độ mặn 20-30 ppt).
Các vi khuẩn này có khả năng kháng lại nhiều loại kháng sinh.Bệnh có thể nhiễm từ các trại giống, ao ương sang ao thịt. Trong sản xuất giống, mầm bệnh được lây lan chủ yếu bằng đường ruột từ tôm mẹ sang ấu trùng trong giai đoạn sinh sản.

PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÍ BỆNH  

1. Trại giống

Vệ sinh kỹ lưỡng bình ấp trứng, bể ương.
Thường xuyên sát trùng dụng cụ.Xử lý nguồn nước bằng UV, chlorine, ozone
Xử lý trứng artemia bằng chlorine

2. Tôm giống

Chọn tôm bố mẹ khỏe, sạch bệnh.Kiểm tra bằng PCR
Kiểm tra sự căng thẳng và sức khỏe của giống, loại tôm yếu bằng formol,Thả nuôi với mật độ thả phù hợp

3.  Ao nuôi

Trước vụ nuôi phải cải tạo ao: nạo vét sạch bùn đáy, bón vôi, phơi ao
Diệt khuẩn trong ao và nước bằng Chlorine 30ppm hoặc B.K.C 1-2ppm hoặc thuốc tím KMnO4 2-3ppmDiệt các vật chủ trung gian, hạn chế cua, còng, ốc trong ao. Vớt hết tôm chết ra khỏi ao.
Dùng men vi sinh để cải tạo đáy ao và xử lý nước hằng ngày trước khi thả tôm 7 ngày.

4. Phòng bệnh:

Độ mặn:

Không nuôi tôm ở độ mặn quá cao. Hạ độ mặn để ức chế vi khuẩn phát sáng.Nhiệt độ nước:

Vào mùa hè, duy trì mức nước trong ao nuôi từ 1,2 – 1,5m và độ trong của nước từ 30 – 40cm để hạn chế khả năng tăng nhiệt.

Giữ môi trường ổn định:

Kiểm tra chất lượng nước (pH, kH, độ đục, màu sắc, tảo) và đáy ao thường xuyên để xử lý kịp thời.

Tăng cường chạy sục khí.

Sử dụng men vi sinh, đường cát, định kỳ.

Theo Việt Linh, cần giữ môi trường ổn định không để tảo tàn đồng loạt làm mất màu nước và bùn đáy. Phát triển nhóm tảo lục (chlorella) để khống chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio harveyi.

Giảm chất hữu cơ trong nước:

Kiểm tra sàng ăn hàng ngày, điều chỉnh thức ăn hợp lý, không để thừa thức ăn làm ô nhiễm nước và đáy ao.

Định kỳ thay nước, xiphông đáy, hút bùn, để giảm bớt chất hữu cơ trong ao.

Chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh cho tôm:

Bổ sung vitamin C, đa vitamin, men tiêu hóa và khoáng vi lượng vào thức ăn để tạo kháng thể, giúp tôm có sức đề kháng, giảm căng thẳng cho tôm nhất là khi có thay đổi môi trường nước hoặc biến động thời tiết.

Từ khi tôm được 21 ngày tuổi, định kỳ kiểm tra vibrio trong nước và tôm 7 ngày/lần. Vibrio trong nước phải ít hơn 102 tế bào/cc và không có vi khuẩn này trong gan tôm.

5. Xử lý khi tôm nhiễm bệnh

Dùng thuốc kháng sinh: dùng đúng loại thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian. Việc sử dụng kháng sinh chỉ có kết quả khi phát hiện bệnh sớm.
Bổ sung đa vitamin và men tiêu hóa vào thức ăn.Diệt khuẩn nước trong ao và khử trùng dụng cụ, thiết bị.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-phat-sang-3156.html

Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng

Ở tôm sú, bệnh thường hay gặp nhất, khó ngăn ngừa và điều trị là bệnh thân đỏ đốm trắng. Theo các công trình nghiên cứu, tất cả các giai đoạn phát triển của tôm đều có thể nhiễm bệnh này. Giai đoạn phát triển mạnh nhất là từ tháng nuôi đầu tiên đến tháng nuôi thứ hai trong ao nuôi tôm thịt. Gây bệnh đốm trắng ở tôm sú do một loại virus có tên khoa học Systemic Ectodermal and Mesodorma Baculoviras (SEMBV). tag: máy thổi khí at

Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng

Virus này nhiễm cảm ở một số mô của nhiều cơ quan khác nhau có nguồn gốc trung bì và ngoại bì như: mang, lớp biểu bì mô của vỏ, thần kinh, dạ dày và một số cơ quan khác trên con tôm. Trên thực tế, dù có phương pháp ngăn ngừa tốt như thế nào thì điều kiện tôm bị virus SEMBV vẫn tồn tại, đôi lúc người nuôi điều trị bằng thuốc và hóa chất cũng không ổn. Bởi vậy, việc có thể làm là ngăn chặn, tránh lây lan từ ao nuôi này sang ao nuôi khác.

Các kết quả nghiên cứu cho biết, hiện nay bệnh đốm trắng ở tôm sú có 3 nguyên nhân gây bệnh, đó là do nhiễm virus, do môi trường và nhiễm khuẩn. Tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do môi trường và nhiễm khuẩn có thể xử lý, khắc phục được, còn tôm bị nhiễm bệnh do virus SEMBV thì chưa có biện pháp hữu hiệu để điều trị. Tôm sú bị nhiễm bệnh đốm trắng có những dấu hiệu như: tôm dạt vào bờ; trên thân tôm xuất hiện nhiều các đốm trắng tròn to, nhỏ khác nhau; khả năng tiêu thụ thức ăn bị giảm sút nghiêm trọng, đa phần tôm dạt vào bờ đều có ruột rỗng, không có thức ăn; tôm chết hàng loạt, có thể chết hết từ 5 – 7 ngày sau khi bị nhiễm bệnh.

Nhiều công trình nghiên cứu đã tìm ra các loại hóa chất để diệt virus SEMBV gây bệnh thân đỏ đốm trắng ở con tôm sú như: Formaline (70ppm), thuốc tím (10ppm), acid phoraccitic (8ppm)… Về nguyên tắc, nếu xử lý các loại hóa chất này xuống ao nuôi đang có tôm bị nhiễm bệnh thì có thể tiêu diệt được virus SEMBV, tôm bị nhiễm bệnh vẫn có thể nuôi cho đến khi thu hoạch. Nhưng trên thực tế, điều này rất tốn kém và không hiệu quả. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh có vai trò rất quan trọng trong nuôi trồng.

Để phòng bệnh, ao trước khi đưa vào nuôi phải được tẩy dọn kỹ, vét sạch chất thải từ vụ nuôi trước để lại, phơi đáy ao từ 5 – 7 ngày, dùng Fomaline để tẩy diệt virus trong ao và các mầm bệnh khác; chọn tôm giống khỏe bằng phương pháp PCR; không thay nước trực tiếp từ biển, mỗi ao nuôi cần phải có một ao chứa nước riêng biệt, trước khi đưa vào nuôi phải được xử lý bằng Fomaline 10ml/m3 hay Clorine 10 – 15ml/m3 ngay trong ao chứa; hàm lượng oxy hòa tan phải lớn hơn 3mg/l, độ pH từ 7,5 – 8,5; ngăn chặn và loại bỏ tất cả các loài giáp xác trong ao nuôi và trong ao chứa bằng biện pháp tẩy dọn, diệt tạp và lọc nước kỹ trước khi đưa vào ao; giữ nền đáy ao sạch sẽ trong suốt chu kỳ nuôi và cho thức ăn tổng hợp có bổ sung một lượng vitamin C từ 2 – 4g/kg thức ăn để tăng sức đề kháng cho tôm.

Nếu phát hiện tôm bị nhiễm bệnh thân đỏ đốm trắng do nhiễm virus, trong trường hợp tôm đã đạt kích cỡ thương phẩm thì nên thu hoạch ngay, sau đó dùng Fomaline hay Clorine liều cao để xử lý nước trong ao trước khi xả ra môi trường. Trong trường hợp tôm chưa đạt kích cỡ thương phẩm thì nên dùng Fomaline phun trực tiếp xuống ao với nồng độ từ 15 – 30ml/m3 để tiêu diệt virus tự do ngoài môi trường và tiêu diệt luôn cả những con tôm bị nhiễm virus, sau đó cần xử lý tôm chết và tiến hành thay nước sạch. Khi tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do độ pH cao thì có thể tìm mọi cách làm giảm độ pH cho phù hợp từ 7,5 – 8,5 như: thay nước mới, dùng Fomaline với nồng độ từ 3 – 4 (ppm), dùng vôi để ổn định độ pH nước trong ao nuôi. Trong trường hợp tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do cảm nhiễm vi khuẩn thì biện pháp khắc phục duy nhất là thu gom tôm chết, tôm yếu dạt vào bờ; cải thiện ao nuôi bằng cách làm sạch đáy bằng máy sục khí và ổn định sự phát triển của tảo; dùng Fomaline có nồng độ từ 10 – 15ml/m3 phun xuống ao để tiêu diệt vi khuẩn ngoài môi trường, sau 12 giờ tiến hành thay nước sạch và cho tôm ăn liên tục 5 ngày kết hợp với kháng sinh Furazolidon hoặc Oxytetracylin với liều lượng 40 – 50mg/kg tôm/ngày.

Ngày nay, để phát hiện tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, người ta thường dùng phương pháp kiểm tra bằng máy PCR theo từng thời kỳ. Nếu máy cho kết quả (+) thì ao nuôi đã bị nhiễm bệnh, kết quả (-) thì ao nuôi đang trong thời kỳ an toàn. Khi phát hiện ra tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, điều vô cùng quan trọng là phải có biện pháp ngăn chặn, không cho lây sang các ao khác. Biện pháp này sẽ giảm được thiệt hại rất nhiều đối với nghề nuôi tôm sú.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-than-do-dom-trang-3157.html

Bệnh Đầu Vàng

Bệnh đầu vàng (Yellow head disease)

Bệnh đầu vàng xuất hiện trên tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm rảo, tôm rằn và nhiều loại tôm khác tại Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ… Ở Việt Nam, tôm nhiễm bệnh đầu vàng nhiều lúc thời tiết thay đổi lúc giao mùa, ở những vùng nuôi ven biển độ mặn cao. tag: máy thổi khí at

Bệnh Đầu Vàng

Triệu chứng:

– Tôm ăn nhiều khác thường trong vài ngày, rồi bỏ ăn đột ngột. Sau đó 1-2 ngày tôm bơi lờ đờ không định hướng trên mặt nước hoặc ven bờ, bám vào bờ.

– Phần đầu ngực, gan, tụy chuyển màu vàng, gan có thể có màu trắng nhạt, vàng nhạt hoặc nâu

– Thân tôm có màu nhợt nhạt

– Tôm chết rải rác trong vó rồi chết với mức độ tăng dần

– Tôm chết rất nhanh trong vòng 3-5 ngày (có thể chết gần 100%) sau khi xuất hiện các triệu chứng.

– Theo Việt Linh, bệnh nặng thêm và gây chết nhanh khi tôm vừa có dấu hiệu nhiễm bệnh đầu vàng vừa có bệnh đốm trắng.

Phương pháp chẩn đoán bệnh:

– Nhận biết triệu chứng bệnh.

– Nhuộm màu mô bào, tế bào máu nhận thấy nhân tế bào bị thoái hóa đông đặc.

– Phân tích PCR.

Nguyên nhân:

– Bệnh do virus YHV (yellow head virus) là virus có acid nhân RNA chuỗi đơn, hình que, kích thước 44 x 173 nm, thuộc loài Nidovirales, họ Ronaviridae, chi Okavirus.

Lây truyền bệnh:

– Chủ yếu lây truyền theo hàng ngang, do có vật chủ trung gian mang mầm bệnh vào môi trường nước.

Phòng và trị bệnh:

– Bệnh đầu vàng chưa có thuốc chữa.

– Phòng ngừa và ngăn chặn bằng cách chọn tôm giống sạch bệnh (qua kiểm tra PCR), diệt khuẩn và diệt vật chủ mang mầm bệnh trong ao và nước.

– Không nuôi mật độ quá cao.

– Luôn cung cấp đủ oxy cho ao nuôi.

– Giữ môi trường ổn định

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-dau-vang-3158.html

Bệnh Phân Trắng

Bệnh phân trắng White faeces disease)

Bệnh phân trắng không phải là bệnh nguy hiểm như bệnh đốm trắng hay đầu vàng, cũng ít khi lan rộng thành dịch, nhưng cũng làm giảm năng suất và thiệt hại cho người nuôi tôm. Bệnh thường thấy ở tôm 40-50 ngày tuổi trở lên. Tôm trên 80-90 ngày tuổi nếu nhiễm bệnh thì thường bệnh nặng. tag: máy thổi khí at

Bệnh Phân Trắng

Bệnh thường xuất hiện trong mùa nắng nóng, nhiệt độ nước cao hoặc ao nuôi mật độ cao (trên 40 con/ m vuông).

Triệu chứng bệnh:

Xuất hiện phân tôm màu trắng trên sàn ăn, hoặc nổi trên mặt nước, dọc bờ ao, góc ao (cuối hướng quạt nước, cuối hướng gió)Tôm giảm ăn hoặc không tăng ăn theo tuổi
Ruột tôm không đầy thức ăn, có những đốm màu vàng cát ở phần cuối ruột.Tôm bị ốp, mỏng vỏ và teo nhỏ dần.
Tôm chậm lớn.

Nguyên nhân:

Do vi khuẩn Vibrio bởi các nguyên nhân sau:Cải tạo đáy ao không phù hợp hoặc những loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến gan tôm như MBV và HPV.
Sinh ra từ Gregarine trong ống gan và đường ruột của tôm hoặc các vật trung gian bám trên thành ruột.

Việc lây truyền bệnh:

Không tràn lan mà chỉ thành từng vùng (sporadic)Gặp ở những nơi nuôi có mật độ dày với hệ thống nuôi kín.
ít thay nước cùng với sự thay đổi của thời tiết vào mùa mưa.Tại trại giống: Có thể do trộn lẫn trong thức ăn tươi của tôm bố mẹ (như các loại ốc, hến…) hay nhiễm trực tiếp từ tôm bố mẹ.
Tại ao nuôi: Có thể gặp trường hợp này từ lúc thả tôm cho đến trước lúc thu hoạch do tôm giống bị nhiễm bệnh hoặc do các vật chủ trung gian truyền bệnh.

PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÍ BỆNH

– Thả tôm với mật độ thích hợp (20-25 con/m2)

– Xử lý và chuẩn bị ao nuôi kỹ.

– Không nên dùng thức ăn tươi: nghêu, sò, cá…

– Chú ý quản lý môi trường. Có biện pháp thay nước định kỳ.

– Theo dõi tôm trong vó thường xuyên.

Đối với chuẩn bị ao nuôi:

Cải tạo ao sạch và nạo vét các chất dơ ra khỏi aoDiệt khuẩn trong ao và nước và vật chủ trung gian:

Chlorine 30ppm
B.K.C 1-2ppm (Cleaner-80)KMnO4 2-3ppm

Hạn chế cua vào ao:
Hạn chế ốc trong ao Tôm chết phải được vớt ra khỏi ao.

Quản lí ao nuôi và nước trong quá trình nuôi

Sử dụng vi sinh vật để cải tạo nước và ao nuôi
Trộn men vi sinh đường ruột Zymetin… vào thức ănBổ sung chất tạo kháng thể (Immunostimulants)  và giảm tình trạng căng thẳng của tôm  khi môi trường nước và ao thay đổi do chất lượng nước và tình trạng thời tiết của từng mùa như C-mix, Betamin, Mutagen, Feed coat. tag:

Vitamin: cho ăn mỗi ngày (1 lần/ ngày)
C và Mutagen: trong trường hợp tôm căng thẳng hoặc môi trường thay đổi.Feed coat: Dùng khi tình trạng môi trường biến đổi.

Xử Lý

Thuốc kháng sinh: Dùng thuốc kháng sinh như Prawnox, N-300 (đã bị cấm sử dụng), Daitrim, Gregacin khi xét đoán được bệnh, nên dùng cho đúng
Thuốc diệt khuẩnTrộn Zymetin… vào thức ăn: 5-10gram/1kg thức ăn hoặc trong trường hợp bị căng thẳng trộn 10-20gram/1kg thức ăn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-phan-trang-3159.html

Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Trong Ao Nuôi Tôm

Ðiều kiện nền đáy ao nuôi tôm có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước ao nuôi tôm thể hiện qua các thông số môi trường như oxy hòa tan, độ trong của nước, sự phát triển của tảo, hàm lượng các khí độc, sự hiện diện và phát triển các loại vi khuẩn gây bệnh,….

Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Trong Ao Nuôi Tôm

Ðáy ao tốt hay xấu phụ thuộc vào chất đất và sự lắng tụ chất thải trong quá trình nuôi tôm mà đặc biệt là chất thải hữu cơ trong suốt quá trình nuôi. Chính vì vậy, ngoài việc chọn chất đất tốt để xây dựng ao nuôi thì việc quản lý tốt chất thải lắng tụ, giữ nền đáy ao luôn sạch là một trong những biện pháp rất cần thiết trong quá trình nuôi tôm. tag: máy thổi khí at

Chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau và có sự khác biệt giữa các ao nuôi, bao gồm: Ðất ao bị xói mòn do dòng chảy của nước; đất từ bờ ao bị rửa trôi; phân tôm; thức ăn thừa; xác chết của phiêu sinh vật; các loại vôi, khoáng chất; chất lơ lửng do nguồn nước cấp. Trong đó  hai yếu tô đầu tiên không phải là nguyên nhân chính của sự hình thành chất hữu cơ. Chất hữu cơ có nguồn gốc chủ yếu từ phân tôm, thức ăn thừa và xác chết của phiêu sinh vật (còn gọi là chất thải).

Đối với  hệ thống ao nuôi năng suất cao như hiện nay thì lượng chất thải hữu cơ tích tụ nhiều chủ yếu do các yếu tố còn lại vì vậy đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ sự tồn lưu chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm. Chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm sinh ra hai sản phẩm chính có tính độc cao đối với nuôi tôm là NH3 và H2S.

Khí NH3 sinh ra do sự bài tiết của tôm và sự phân hủy chất đạm có trong các vật chất hữu cơ ở điều kiện hiếu khí và yếm khí. Khí H2S chỉ sinh ra từ các chất hữu cơ lắng tụ khi phân hủy trong điều kiện yếm khí. Nếu H2S hiện diện trong ao nuôi ở nồng độ cao, ta có thể nhận ra bằng đặc điểm có mùi trứng thối đặc trưng của H2S. Tuy nhiên, khi nồng độ H2S cao đủ để phát hiện bằng mùi thối thì chúng đã vượt trên mức gây độc cho tôm.

NH3 sinh ra chủ yếu ở giai đoạn tôm nuôi ở tháng thứ ba tuy nhiên nếu quản lý tốt thì sẽ hạn chế được hiện tượng này. Khí H2S thường phát sinh ở những ao dọn tẩy không triệt để. Tính độc của NH3 và H2S tùy thuộc vào nồng độ của chúng, độ pH và các thông số khác. NH3 trở nên độc hơn khi pH cao còn H2S lại độc hơn khi pH thấp. Ngoài việc sinh ra chất độc thì chất thải là nơi phát sinh các dòng vi khuẩn gây bệnh cho tôm đặc biệt là các bệnh đen mang, mòn đuôi, cụt râu,…

Sự hiện diện của các dòng vi khuẩn và phiêu sinh vật trong ao nuôi tôm thể hiện sự phân hủy tự nhiên của các chất độc và chất thải trong ao nuôi tôm. Các quá trình phân hủy bị ảnh hưởng bởi hàm lượng ôxy hòa tan trong ao, nhiệt độ và dòng chảy. Nếu chất thải hình thành nhanh hơn tốc độ phân hủy thì sự tích tụ sẽ xuất hiện trong ao gây ảnh hưởng đến sức đề kháng và nguyên nhân gây bệnh cho tôm nuôi.

Ðể hạn chế sự tích tụ lượng chất thải trong ao nuôi tôm chúng ta cần lưu ý một số vấn đề sau:

a. Chuẩn bị ao kỹ

Trong ao nuôi tôm công nghiệp. mặc dù có quản lý chất thải tốt đến đâu thì việc tồn lưu chất thải hữu cơ sau vụ nuôi tôm là điều không thể trách khỏi. Do đó, trước khi thả tôm chúng ta phải tiến hành dọn sạch chất thải, rải vôi, phơi đáy và cày xới đáy ao giúp cho đáy ao thông thoáng, tiêu diệt mầm bệnh và giải phóng khí độc là điều hết sức cần thiết.

b. Quản lý sự xói mòn do dòng chảy của nước

Sự xói mòn do dòng chảy của nước chủ yếu do hoạt động của hệ thống mày quạt nước, sự xói mòn từ bờ ao khi trời mưa và thường xảy ra ở những ao nuôi mới xây dựng. Ðể khắc phục hiện tượng này, trước khi nuôi tôm đối với những ao mới xây dựng cần phải rửa ao nhiều lần, gia cố bờ chắc chắn. Ðặt hệ thống quạt nước sao cho dòng chảy trong ao điều hòa đảm bảo chất thải gom tụ lại ở giữa ao và tạo ra được tỷ lệ diện tích đáy ao sạch là cao nhất.

c. Quản lý thức ăn

Trong nuôi bán thâm canh và thâm canh thì việc chọn loại thức ăn và quản lý tốt lượng thức ăn sử dụng trong ao nuôi có ý nghĩa rất lớn đến sự tồn tại của chất thải hữu cơ vì chất lượng thức ăn kém dẫn đến hệ số tiêu tốn thức ăn cao, hoặc do độ tan rã thức ăn trong nước lớn làm cho tôm không sử dụng hết thức ăn, hoặc do việc điều chỉnh thức ăn không phù hợp, vị trí cho tôm ăn không phù hợp sẽ dẫn đến dư thừa thức ăn trong ao. Ðể làm tốt điều này cần phải chọn loại thức ăn có chất lượng cao và sử dụng thức ăn cho tôm nuôi một cách hợp lý, tránh hiện tượng thừa thức ăn.

d. Quản lý tốt màu nước ao nuôi

Ðây là một công việc hết sức cần thiết bởi một trong những vai trò tích cực của tảo là làm tăng chất lượng nước, giảm các khí độc tồn tại trong ao.

e. Chọn nguồn nước cấp thích hợp

Nguồn nước cấp vào nuôi cũng là một trong những lý do làm tích tụ chất hữu cơ trong ao nuôi tôm. Do vậy, khi chọn nguồn nước cấp vào ao nuôi chúng ta cần phải chọn những nguồn nước ít chất lơ lửng, không có tảo.

g. Gom tụ chất thải và tránh khuấy động chất trong ao nuôi

Việc sử dụng máy quạt nước để gom tụ chất thải, áp dụng việc sử dụng các loại vôi, khoáng chất, tránh khuấy động vùng gom tụ chất thải sẽ là một giải pháp tương đối an toàn vừa tạo ra vùng sạch cho tôm hoạt động vừa tránh sự phát tán chất lơ lửng trở lại nước ao trong suốt thời gian nuôi,… Nên dành một ao chứa có diện tích phù hợp để gom tụ chất thải, tránh xả thẳng chất thải ra bên ngoài.

Ngoài ra, việc sử dụng ao chứa lắng và nuôi mật độ vừa phải cũng là một giải pháp tốt trong việc quản lý chất thải.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phuong-phap-xu-ly-chat-thai-trong-ao-nuoi-tom-3450.html

Quy Trình Nuôi Tôm Sú Thâm Canh, Bán Thâm Canh

Dựa trên nền tảng quy trình nuôi tôm thâm canh (công nghiệp) – bán thâm canh (bán công nghiệp) mà các ban, ngành chuyên môn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo.

Quy Trình Nuôi Tôm Sú Thâm Canh, Bán Thâm Canh

Trên cơ sở trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất của các hộ nuôi thành công trong tình hình bệnh dịch của nhiều năm trước và trong năm 2011. tag: máy thổi khí at

Để giúp người nuôi hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro do dịch bệnh Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bạc Liêu khuyến cáo quy trình nuôi tôm thâm canh (công nghiệp) – bán thâm canh (bán công nghiệp) đang áp dụng thành công cho đối tượng tôm sú, tôm thẻ chân trắng như sau:

I. CẢI TẠI AO:

1.1 Xử lý đáy ao: Sau mỗi vụ nuôi, cải tạo lại ao đầm nhằm loại bỏ các chất thải tồn lưu ra khu vực ao chứa chất thải, gia cố mái bờ xử lý triệt để rò rỉ. Đối với những ao nuôi trước đây có sử dụng các loại hoá chất, thuốc trừ sâu, hoặc nuôi nhiều vụ liên tục, nên cày xới đáy ao, phơi khô, sau đó lọc nước ngâm đáy ao khoảng 3 – 5 ngày hút nước ra ngoài và phơi đáy cho đến khô nứt nẻ. Kiểm tra pH đáy ao, nếu pH> 6 bón vôi CaO hay CaCO3 từ 70 – 100 kg/ 1000 m2, nếu pH

Chú ý: Không nên san ủi đáy ao quá sâu (> 1,8 m) dễ dẫn đến ao nuôi có độ pH thấp do gặp tầng sinh phèn, tôm nuôi chậm lớn do khó lột xác.

1.2 Lọc nước: Cấp nước vào ao lắng rồi chuyển qua đầy ao nuôi bằng máy bơm hoặc cống. Cần có túi lọc bằng vải kate để hạn chế tối đa tôm, cá tạp xâm nhập vào ao.

– Tránh lấy nước trong các trường hợp sau:

+ Nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh.

+ Nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm.

+ Nước có nhiều váng bọt, màng nhầy, nhiều phù sa đen lơ lửng.

+ Không lấy nước khi thủy triều đang lên. (Nên lấy nước bắt đầu bình để hạn chế các chất phù sa lơ lững vào ao).

– Nên lấy nước vào ao nuôi qua hệ thống ao lắng, ao chứa vì:

+ Nước ở đây đã được lắng lọc phù sa và các loại rong tảo tạp, cá tạp.

+ Nguồn nước lưu giữ trong ao lắng, ao chứa được lấy vào trước đó 10 – 15 ngày, các mầm bệnh tiềm ẩn trong môi trường sẽ giảm do không tìm được ký chủ trung gian.

1.3 Xử lý nước: Sau khi lấy đủ mực nước trong ao, để ổn định 2 – 3 ngày. Những hộ diện tích ít không có hệ thống ao lắng, ao chứa cần để ổn định nước trong ao 10 – 20 ngày) tiến hành diệt giáp xác bằng sản phẩm chuyên dùng trong nuôi thủy sản (không chứa các chất cấm sử dụng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Sau 1 – 3 ngày, chạy hệ thống cung cấp oxy, trung bình ngày 4 – 6 giờ để kích thích cho trứng, ấu trùng cá tạp có trong nước nở hết và tiến hành diệt tạp, sử dụng Saponin 15 – 20 kg/1.000 m3 nước. Sau 3 – 5 ngày tiến hành diệt khuẩn, sản phẩm được sử dụng nhiều là Iodine, Virkon..(sử dụng lúc 8 giờ hoặc 16 giờ).

1.4 Gây màu nước: Thực hiện gây màu nước sau khi đã diệt khuẩn từ 3 – 7 ngày. Đây là khâu quan trọng nhằm tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Gây màu tốt giúp ổn định môi trường nước, hạn chế được tôm bị sốc giúp tăng tỉ lệ sống: sử dụng vôi Dolomite hoặc CaCO3: 15 – 20 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng phân gây màu, hoặc sử dụng phân vô cơ NPK, DAP (2 – 3 kg/1.000 m3) hoặc sử dụng theo phương pháp truyền thống: sử dụng cám gạo, bột đậu nành nấu chín, ủ chua (2 – 3 kg/1.000 m3) sử dụng liên tục 3 – 5 ngày. Kiểm tra độ trong khi đạt 30 – 40 cm thì tiến hành cấy vi sinh.

Mục đích cấy vi sinh là để phân hủy các cặn hữu cơ lơ lững, các xác tảo chết tích tụ do dùng hóa chất diệt khuẩn trước đó, đồng thời tạo nguồn vi khuẩn có lợi giúp môi trường ao nuôi ổn định, tạo điều kiện cho tôm nuôi phát triển tốt ngay từ đầu. Tiến hành kiểm tra lại các yếu tố môi trường nếu nằm trong ngưỡng thích hợp: pH: 7,5 – 8,5 dao động trong ngày không quá 0,5: độ kiềm ≥ 70, độ mặn < 30 ‰, các chỉ tiêu H2S, NH3…= 0 thì tiến hành thả giống.

2. PHƯƠNG PHÁP CHỌN GIỐNG VÀ THẢ GIỐNG:

2.1 Chọn giống

Tôm giống tốt sẽ cho tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt. Cần áp dụng các bước sau:

a. Chọn bằng cảm quan qua các đặc điểm như:

Kích cỡ, màu sáng, sắc tố thể hiện rõ, đôi râu khép lại, các đốt bụng thon, dài, cơ bụng căng đầy, thịt đầy vỏ, đầu và thân cân đối. Tôm bơi ngược dòng nước, bám vào thành bể tốt. Phản xạ tốt khi gõ vào dụng cụ chứa. Phụ bộ tôm hoàn chỉnh, không có ký sinh trùng bám. Đường ruột đầy thức ăn. Không bệnh phát sáng.

b. Sốc formol: trước khi xét nghiệm nên sốc formol 70 – 100 ppm, thời gian 30 phút, hoặc sốc độ mặn bằng cách giảm đột ngột độ mặn xuống 50%, nếu tỉ lệ chết < 10% là đạt yêu cầu.

c. Chọn qua xét nghiệm để phát hiện, loại bỏ mẫu tôm yếu, nhiễm virus đốm trắng, đầu vàng, virus MBV…

2.2 Thả giống

Kích thước tôm giống thả: đối với tôm sú tốt nhất là thả giống khi đạt kích cỡ Post 12 – 15. Đối với tôm thẻ chân trắng tốt nhất là Post 10 – 12.

Mật độ thả: Tùy vào điều kiện kinh tế, mức đầu tư và kỹ thuật của từng hộ, đối với tôm sú nên thả từ 10 – 20 con/m2; tôm thẻ chân trắng từ 50 – 100 con/m2.

Thả giống đúng kỹ thuật cũng góp phần tăng tỷ lệ sống của đàn tôm. Trước khi thả giống nên ngâm các bọc chứa tôm giống trong nước ao khoảng 15 phút để cân bằng nhiệt độ giữa nước trong bọc chứa tôm giống và nước ao nuôi. Thả tôm vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát là tốt nhất.

3. CHĂM SÓC VÀ QUẢN LÝ:

3.1 Chăm sóc: Hiệu quả kinh tế phụ thuộc rât nhiều vào thức ăn, cách cho ăn, sử dụng thuốc thú y thủy sản phòng ngừa bệnh, các chất khoáng vi lượng… Cần cho tôm ăn bằng thức ăn công nghiệp (CN) ngay sau khi thả giống, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, số lượng, cỡ mồi phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

– Tháng nuôi thứ 1: Ngày đầu tiên cho ăn 1,2 – 1,5 kg/100.000 con giống, cứ 2 ngày tăng 200 gam/100.000 con giống, 15 ngày sau khi thả giống đến khi thu hoạch sử dụng các sản phẩm thuốc thú y thủy sản có chức năng phòng ngừa các bệnh đường tiêu hóa, bệnh gan và cung cấp các Vitamin, các khoáng cần thiết giúp tôm tăng cường sức đề kháng (mỗi loại 5 – 10 gam/kg thức ăn). Các sản phẩm này sau khi phối trộn được bao bọc bằng 1 trong các loại chất kết dính: dầu mực, dầu cá hoặc các sản phẩm thương mại có tính năng kết dính khác, lượng dùng 15 – 20 gam/kg thức ăn.

– Tháng nuôi thứ 2 đến thu hoạch: Điều chỉnh thức ăn trong ngày thông qua sàn ăn, chú ý những ngày mưa hoặc nắng gắt chỉ sử dụng 70 – 80% lượng thức ăn đã định, tránh hiện tượng thức ăn dư thừa làm ô nhiễm môi trường ao nuôi, tôm dễ phát sinh bệnh. Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, đảm bảo chu kỳ nuôi hệ số thức ăn dao động 1,3 – 1,6.

3.2 Quản lý: Khi nuôi tôm ở mật độ dày, nhất là trong nuôi tôm thẻ chân trắng thì tất cả hệ thống sinh thái của môi trường nước đều thay đổi hoàn toàn so với những điều kiện tôm sống ngoài tự nhiên. Rất nhiều diễn biến phức tạp và sự cố xảy ra hàng giờ, hàng ngày. Dùng vi sinh đúng liều lượng sẽ giúp cân bằng hệ sinh thái, kích thích vi sinh vật có lợi lấn át vi sinh vật có hại gây bệnh cho tôm, tiết kiệm chi phí và ao nuôi luôn ổn định, an toàn trong suốt quá trình nuôi.

– Trong tháng nuôi 1: Chú ý gây và giữ màu nước ao nuôi, tránh trường hợp nước ao trong kéo dài sinh tảo đáy (laplap) hoặc tảo phát triển quá mức gây hiện tượng thiếu oxy về sáng, có thể gây ra hiện tượng tôm đóng rong. Định kỳ 10 – 15 ngày sử dụng vi sinh 1 lần.

– Tháng nuôi thứ 2 đến khi thu hoạch: Tôm lớn nhu cầu oxy cao nên nhất thiết không để tảo phát triển nhiều trong ao. Trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 90% các ao nuôi tôm Thâm canh – Bán thâm canh đều có độ kiềm thấp < 80 ppm, đây là yếu tố quan trọng tác động đến chu kỳ lột xác và sự phát triển của tôm nuôi. Vì vậy, định kỳ hoặc khi thấy tảo trong ao phát triển mạnh hoặc màu nước thay đổi, độ kiềm thấp… dùng vôi CaCO3 10 – 20 kg/1.000 m3 hoặc sử dụng khoáng tạt lúc 20 – 21 giờ tối, trưa hôm sau cấy vi sinh (sản phẩm chất lượng, có uy tín, thương hiệu) nhằm phân hủy các chất thải, xác tảo, mùn hữu cơ đáy ao, tạo nên môi trường trong sạch, pH, độ kiềm ổn định giúp tôm phát triển tốt.

– Hệ thống cung cấp oxy trong ao nuôi Thâm canh – Bán thâm canh là không thể thiếu, nhất là đối với nuôi tôm thẻ chân trắng. Tùy diện tích ao, mật độ nuôi mà bố trí hệ thống này cho hợp lý. Trong quá trình nuôi đặc biệt chú ý vào thời điểm từ 19 – 21 giờ oxy trong nước ao giảm dần. Đặc biệt từ 01 – 05 giờ sáng là thời điểm oxy thấp nhất, nhất là vào những ngày thời tiết thay đổi nắng – mưa,…nên rất cần phải vận hành hệ thống này.

– Trang thiết bị dụng cụ cần sử dụng riêng biệt, vệ sinh cá nhân, dụng cụ trước và sau khi sử dụng.

3.3 Những sự cố thường gặp

Khi trong ao nuôi tôm có biểu hiện: Mòn đuôi, đen mang, đứt các phụ bộ, sắc tố xấu, phát sáng hoặc màu nước có biểu hiện khác thường…là các bệnh do vi khuẩn, môi trường gây ra, Cần sử dụng vôi CaCO3 lượng dùng 20 – 30 kg/1.000 m3, hoặc khoáng tạt 1 kg/1.000 m3 sử dụng buổi tối trưa hôm sau cấy vi sinh (loại chất lượng và có uy tín trên thị trường) liều dùng gấp 2 – 3 lần so với dùng định kỳ, sử dụng liên tục trong 2 – 3 ngày. Trong ao xuất hiện tảo lam, tảo đỏ, sinh tảo đáy (laplap) bà con dùng các loại sản phẩm có chức năng diệt tảo (khi sử dụng bà con phải vận hành hệ thống cung cấp oxy phòng khi tránh hiện tượng tôm nổi đầu), sau 2 – 3 ngày cấy vi sinh.

Trong trường hợp tôm nuôi bị nhiễm các bệnh do virus, đối với tôm lớn cần thu hoạch ngay, tôm nhỏ cần xử lý (diệt bỏ) tại ao, có biện pháp cách ly đối với các ao còn lại như là dùng lưới rào ngăn cua còng từ ao nhiễm bệnh bò sang, sát trùng bờ ao bằng vôi CaO hoặc CaCO3 20 – 30 kg/100 m2 bờ…sau khi diệt bỏ tối thiểu 7 ngày mới xả ra ngoài môi trường.

Chú ý: Tất cả các loại vi sinh đều sử dụng vào thời điểm có nắng hoặc nếu thời tiết lạnh, mưa, cần sục khí để nhân sinh khối tăng tính hiệu quả.. Không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào để cắt tảo hay kích thích tôm lột hoặc sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi khi tôm đang phát triển bình thường để tránh có những sự cố đáng tiếc xảy ra như là tôm nổi đầu do sử dụng hóa chất làm ao mất tảo hay tôm “óp” do kích lột nhiều lần khi chưa tới chu kỳ lột, tôm chậm lớn do lạm dụng kháng sinh…

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-nuoi-tom-su-tham-canh-ban-tham-canh-3493.html

Quản Lý Bùn Đáy Ao Tôm

Bùn là nguyên nhân chính gây ô nhiễm trong ao và là nơi phát sinh mầm bệnh. Vì vậy, quản lý tốt bùn đáy sẽ phòng tránh được những rủi ro và nâng cao năng suất tôm nuôi.

Quản Lý Bùn Đáy Ao Tôm

Chuẩn bị vụ nuôi mới

Sau mỗi vụ nuôi, đặc biệt là nuôi thâm canh và bán thâm canh thì lượng bùn (thức ăn thừa, sự tàn lụi của tảo, phù sa tích tụ đáy tồn đọng lại trong đáy ao) là rất lớn. Đây là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho vụ nuôi mới, vì vậy cần phải thực hiện những bước sau:

– Loại bỏ hết bùn ra khỏi ao nuôi (có thể đưa bùn ra khỏi ao bằng máy múc hoặc dùng bơm với bùn loãng). tag: máy thổi khí at

– Làm sạch đáy ao bằng máy bơm nước áp lực cao (vòi rồng), phương pháp này vừa giúp làm sạch lớp bùn, chất hữu cơ bám trên bề mặt, đồng thời có tác dụng cày xới đáy ao, tạo điều kiện cho việc ôxy hóa và giải phóng các khí độc tích tụ dưới đáy ao dễ dàng hơn.

Lưu ý: Đối với những ao nuôi đáy có phèn thì sau khi dọn sạch bùn đáy cần ngâm nước rửa phèn sau đó tháo cạn, (không phơi ao quá lâu). Nên phơi ao từ 5-7 ngày là tốt nhất. Nếu vụ trước xảy ra dịch bệnh cần dùng một số hóa chất như Clorine, thuốc tím, VICATO (10-15g/m3) để khử trùng, tiêu độc đáy ao.

Quản lý trong vụ nuôi

Chất thải của tôm và thức ăn thừa chứa nhiều chất hữu cơ như cacbon, nitơ, phốt pho, đây là các chất chính gây hiện tượng phì dưỡng trong ao, kích thích sự phát triển của tảo trong đó có nhiều loại tảo có hại. Khi các chất hữu cơ phân hủy sẽ tiêu hao nhiều ôxy và sản sinh ra nhiều khí độc như H2S, NH3 gây ngộ độc và stress cho tôm, là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng tôm nổi đầu vào buổi sáng sớm. Từ tháng thứ 2 trở đi, lượng bùn đáy chất thải trong ao bắt đầu tăng nhanh do lượng thức ăn tăng. Giai đoạn này quản lý chất thải bùn đáy chính là quản lý tốt thức ăn và chất lượng nước.

Hầu hết những loài tôm nuôi hiện nay đều có tập tính sống đáy, vì vậy khi lượng bùn đáy trong ao nhiều tôm dễ mắc các bệnh về mang như vàng mang, đen mang, hoại tử mang… là nguyên nhân làm hao hụt đàn tôm trong ao, đặc biệt tôm ở giai đoạn nhỏ. Do vậy, tăng cường cung cấp ôxy thông qua hệ thống quạt nước và sục khí đáy cũng góp phần làm giảm bớt tác hại của bùn đáy.

Những biện pháp quản lý chung đối với bùn đáy

Ngay từ khi xây dựng ao cần bố trí vị trí gom bùn trong ao như tạo vùng lõm giữa ao để tiện xiphông, độ dốc nghiêng về phía cống thoát; Có chế độ cho ăn hợp lý, tránh cho ăn dư thừa thức ăn; Kiểm soát tốt các yếu tố thủy lý thủy hóa trong ao, tránh để tảo tàn lụi.

Trong quá trình nuôi, cần sử dụng men vi sinh, các chế phẩm sinh học (như BiO CURB dry, BZT®DIGESTER…), các vi khuẩn có lợi giúp phân hủy bùn đáy, kích thích hệ vi sinh có lợi phát triển, hạn chế được sự phát triển của mầm bệnh.

Bố trí hệ thống cung cấp oxy, đặc biệt oxy tầng đáy hợp lý để vừa cung cấp ôxy cho ao vừa có tác dụng gom bùn đáy.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-bun-day-ao-tom-3504.html