Monthly Archives: July 2017

Cắt Cuống Mắt Để Kích Thích Tôm Đẻ

Cuống mắt tôm giống như một cái máy phát ra tín hiệu hóa học ngăn cản sự sinh sản. Vì vậy, cắt cuống mắt sẽ kích thích tôm đẻ nhiều.

Cắt Cuống Mắt Để Kích Thích Tôm Đẻ

Trong tự nhiên, tôm cái trưởng thành giao vĩ ngay sau khi lột xác. Chúng chứa tinh của tôm đực trong nang lưu tinh cho đến khi đẻ trứng. Sau đó, buồng trứng mới phát triển và tôm đẻ.

Vì sao phải cắt cuống mắt thì tôm mới đẻ?

Khi tôm chuyển từ tình trạng bình thường sang tình trạng sinh sản thì có sự thay đổi cơ bản về tương quan giữa hormon kích thích sinh sản và hormon ức chế các quá trình này. Trong đó hormon ức chế sự sinh sản được sản xuất tích tụ và phóng thích từ cuống mắt của tôm.

Như vậy cuống mắt tôm giống như một cái máy phát ra tín hiệu hoá học ngăn cản sự sinh sản. Vì vậy, cắt cuống mắt tôm cũng giống như tháo gỡ cái máy phát ra tín hiệu này. Nhờ thế mà sự phát triển của buồng trứng và đẻ trứng được giải tỏa. Buồng trứng phát triển liên tục và tôm đẻ.

Nghĩa là sau khi cắt cuống mắt, tôm đẻ cấp tập vài lần, (có khi tới năm lần). Tuy nhiên chất lượng mỗi lần sinh sản sau cũng giảm so với lần trước đó. Cho đến khi trên thực tế sự sinh sản của tôm không mang lại hiệu quả sinh học và hiệu quả kinh tế thì phải loại bỏ chúng. Đến nay có khoảng 20 loài tôm khác nhau được áp dụng thủ thuật cắt cuống mắt để kích thích sinh sản.

Phương pháp cắt cuống mắt

Để cắt cuống mắt cho tôm, người ta thường đốt, kẹp hoặc thắt cuống mắt của tôm mà không cắt rời ngay để tránh sự chảy máu (dịch cơ thể).

Ở Việt Nam, các nhà sản xuất tôm giống dùng dây cao su nhỏ (dây thun) thắt cuống mắt. Mắt bị thắt cuống có thể rụng sau đó nhưng dịch cơ thể không bị thất thoát.

Ngay sau khi cắt cuống mắt, cần theo dõi chặt chẽ sự phát triển của buồng trứng. Khi thấy buồng trứng đang ở giai đoạn IV thành thục, lập tức tôm được tách riêng vào bể đẻ.

Hạn chế

Tôm bị cắt cuống mắt chỉ đẻ ba đến năm lần và đời sống sinh sản cũng chấm dứt. Trong khi tôm ở ngoài tự nhiên không bị cắt cuống mắt và có thể đẻ nhiều lần hơn trong một khoảng thời gian dài, cho ra nhiều tôm con hơn. Vì vậy người ta đã nghiên cứu làm sao để có thể kích thích tôm đẻ mà không cần cắt cuống mắt.

Việc ứng dụng tiêm serotonin cho tôm cái đã được thực hiện và tỷ lệ tôm đẻ lần đầu là 35,4%, gấp sáu lần đối chứng. Tỷ lệ tôm đẻ tiếp trong lần hai là 6,7%. Tính chung, số tôm đẻ do được kích thích bằng serotonin gấp bảy lần so với đối chứng. Tỷ lệ tôm đẻ nhờ tiêm serotonin thấp hơn tôm được cắt cuống mắt.

Nhưng sau những lần đẻ dồn dập số tôm cắt cuống mắt không thể tiếp tục được dùng để sản xuất tôm giống. Trong khi những chú tôm đã đẻ nhờ serotonin vẫn tiếp tục sinh sản vì không bị lổn thương, nhờ thế mà người ta có thể kéo dài được tuổi thọ sinh sản của tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cat-cuong-mat-de-kich-thich-tom-de-8620.html

Kích Thích Tôm Đẻ Không Cần Cắt Cuống Mắt

Một cách hình tượng, có thể coi cuống mắt của tôm cùng với một vài cấu trúc nội tiết khác như một hệ thống điều tiết nước chảy từ một hồ chứa. Việc cắt cuống mắt tương tự như phá đập để lấy nước.

Kích Thích Tôm Đẻ Không Cần Cắt Cuống Mắt

Lúc đầu thì nước chảy ồ ạt nhưng mức nước ở hồ sụt nhanh và mất khả năng điều tiết. Tôm cái bị cắt cuống mắt chỉ đẻ 3 -5 lần và đời sống sinh sản của nó chấm dứt ở đó. Tôm cái trong tự nhiên hẳn là không bị cắt cuống mắt và có thể đẻ nhiều lần hơn trong một khoảng thời gian dài, cho ra nhiều tôm con hơn. Một thí nghiệm gần đây trên loài tôm he chân trắng, là loài đến nay vẫn được cắt cuống mắt để kích thích sinh sản cho thấy, có thể kích thích đẻ mà không cần cắt cuống mắt.

Người ta tiêm Serotonin cho tôm cái và tỷ lệ tôm đẻ lần đầu là 35,4%, gấp 6 lần đối chứng. Tỷ lệ tôm đẻ tiếp trong lần hai là 6,7. Tính chung số tôm đẻ do được kích thích bằng serotonin gấp 7 lần so với đối chứng.

Tất nhiên là tỷ lệ tôm đẻ nhờ tiêm serotonin là thấp hơn tỷ lệ tôm đẻ do được cắt cuống mắt. Nhưng sau những lần đẻ dồn dập do được cắt cuống mắt thì những tôm như thế không thể tiếp tục được dùng để SX giống nữa. Trong khi ấy, chắc chắn những tôm đã đẻ nhờ serotonin vẫn có thể tiếp tục sinh sản vì không bị những tổn thương bất khả hồi. Kết quả nghiên cứu này rất khích lệ vì nhờ thế người ta có thể kéo dài được tuổi thọ sinh sản của tôm một cách đáng kể.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kich-thich-tom-de-khong-can-cat-cuong-mat-8621.html

Phòng Và Trị Bệnh Mềm Vỏ Kinh Niên Ở Tôm

Bệnh mềm vỏ kinh niên là bệnh thường xảy ra trong các ao nuôi tôm thương phẩm. Biểu hiện của bệnh là sau khi lột xác, vỏ tôm không cứng lại được, vỏ thường bị nhăn nheo, dễ rách nát nên dễ bị cảm nhiễm của các tác nhân gây bệnh, tôm có vỏ mềm yếu, vùi mình dạt bờ. Có nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng mềm vỏ của tôm.

Phòng Và Trị Bệnh Mềm Vỏ Kinh Niên Ở Tôm

Do trong thức ăn dùng nuôi tôm thiếu chất khoáng hoặc thiếu một số vitamin, nhất là vitamin D thúc đẩy quá trình hấp thụ các chất khoáng. Cũng có thể thức ăn kém chất lượng, ôi thiu hoặc cho ăn thiếu.

Trong ao có nhiều chất độc, như các khí độc sinh ra do sự phân huỷ của các chất hữu cơ, chất độc sinh ra do tảo độc hoặc chất độc do nguồn nước thải công nghiệp, sinh hoạt đặc biệt là thuốc trừ sâu trong nông nghiệp.

Nuôi tôm trong điều kiện môi trường có nhiều biến động gây sốc làm rối loạn hoạt động trao đổi chất của tôm cũng gây ra mềm vỏ.

Từ nguyên nhân gây mềm vỏ như đã nêu ở trên, cần ngăn chăn hiện tượng này cần quan tâm đến vấn đề sau:

Dùng thức ăn có chất lượng tốt, có hàm lượng P: Ca là 1: 1. Bổ sung một lượng Vitamin tổng hợp, không nuôi mật độ quá cao.

Đảm bảo độ pH 7,5 đến 8,5 trong suốt quá trình nuôi.

Tránh nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt chảy vào ao nuôi, tránh hiện tượng tảo nở hoa gây biến động điều kiện môi trường.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-va-tri-benh-mem-vo-kinh-nien-o-tom-8622.html

Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng Ở Tôm Sú

Ở tôm sú, bệnh thường hay gặp nhất, khó ngăn ngừa và điều trị là bệnh thân đỏ đốm trắng. Theo các công trình nghiên cứu, tất cả các giai đoạn phát triển của tôm đều có thể nhiễm bệnh này. Giai đoạn phát triển mạnh nhất là từ tháng nuôi đầu tiên đến tháng nuôi thứ hai trong ao nuôi tôm thịt. Gây bệnh đốm trắng ở tôm sú do một loại virus có tên khoa học Systemic Ectodermal and Mesodorma Baculoviras (SEMBV).

Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng Ở Tôm Sú

Virus này nhiễm cảm ở một số mô của nhiều cơ quan khác nhau có nguồn gốc trung bì và ngoại bì như: mang, lớp biểu bì mô của vỏ, thần kinh, dạ dày và một số cơ quan khác trên con tôm. Trên thực tế, dù có phương pháp ngăn ngừa tốt như thế nào thì điều kiện tôm bị virus SEMBV vẫn tồn tại, đôi lúc người nuôi điều trị bằng thuốc và hóa chất cũng không ổn. Bởi vậy, việc có thể làm là ngăn chặn, tránh lây lan từ ao nuôi này sang ao nuôi khác.

Các kết quả nghiên cứu cho biết, hiện nay bệnh đốm trắng ở tôm sú có 3 nguyên nhân gây bệnh, đó là do nhiễm virus, do môi trường và nhiễm khuẩn. Tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do môi trường và nhiễm khuẩn có thể xử lý, khắc phục được, còn tôm bị nhiễm bệnh do virus SEMBV thì chưa có biện pháp hữu hiệu để điều trị. Tôm sú bị nhiễm bệnh đốm trắng có những dấu hiệu như: tôm dạt vào bờ; trên thân tôm xuất hiện nhiều các đốm trắng tròn to, nhỏ khác nhau; khả năng tiêu thụ thức ăn bị giảm sút nghiêm trọng, đa phần tôm dạt vào bờ đều có ruột rỗng, không có thức ăn; tôm chết hàng loạt, có thể chết hết từ 5 – 7 ngày sau khi bị nhiễm bệnh.

Nhiều công trình nghiên cứu đã tìm ra các loại hóa chất để diệt virus SEMBV gây bệnh thân đỏ đốm trắng ở con tôm sú như: Formaline (70ppm), thuốc tím (10ppm), acid phoraccitic (8ppm)… Về nguyên tắc, nếu xử lý các loại hóa chất này xuống ao nuôi đang có tôm bị nhiễm bệnh thì có thể tiêu diệt được virus SEMBV, tôm bị nhiễm bệnh vẫn có thể nuôi cho đến khi thu hoạch. Nhưng trên thực tế, điều này rất tốn kém và không hiệu quả. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh có vai trò rất quan trọng trong nuôi trồng.

Để phòng bệnh, ao trước khi đưa vào nuôi phải được tẩy dọn kỹ, vét sạch chất thải từ vụ nuôi trước để lại, phơi đáy ao từ 5 – 7 ngày, dùng Fomaline để tẩy diệt virus trong ao và các mầm bệnh khác; chọn tôm giống khỏe bằng phương pháp PCR; không thay nước trực tiếp từ biển, mỗi ao nuôi cần phải có một ao chứa nước riêng biệt, trước khi đưa vào nuôi phải được xử lý bằng Fomaline 10ml/m3 hay Clorine 10 – 15ml/m3 ngay trong ao chứa; hàm lượng oxy hòa tan phải lớn hơn 3mg/l, độ pH từ 7,5 – 8,5; ngăn chặn và loại bỏ tất cả các loài giáp xác trong ao nuôi và trong ao chứa bằng biện pháp tẩy dọn, diệt tạp và lọc nước kỹ trước khi đưa vào ao; giữ nền đáy ao sạch sẽ trong suốt chu kỳ nuôi và cho thức ăn tổng hợp có bổ sung một lượng vitamin C từ 2 – 4g/kg thức ăn để tăng sức đề kháng cho tôm.

Nếu phát hiện tôm bị nhiễm bệnh thân đỏ đốm trắng do nhiễm virus, trong trường hợp tôm đã đạt kích cỡ thương phẩm thì nên thu hoạch ngay, sau đó dùng Fomaline hay Clorine liều cao để xử lý nước trong ao trước khi xả ra môi trường. Trong trường hợp tôm chưa đạt kích cỡ thương phẩm thì nên dùng Fomaline phun trực tiếp xuống ao với nồng độ từ 15 – 30ml/m3 để tiêu diệt virus tự do ngoài môi trường và tiêu diệt luôn cả những con tôm bị nhiễm virus, sau đó cần xử lý tôm chết và tiến hành thay nước sạch. Khi tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do độ pH cao thì có thể tìm mọi cách làm giảm độ pH cho phù hợp từ 7,5 – 8,5 như: thay nước mới, dùng Fomaline với nồng độ từ 3 – 4 (ppm), dùng vôi để ổn định độ pH nước trong ao nuôi.

Trong trường hợp tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do cảm nhiễm vi khuẩn thì biện pháp khắc phục duy nhất là thu gom tôm chết, tôm yếu dạt vào bờ; cải thiện ao nuôi bằng cách làm sạch đáy bằng máy sục khí và ổn định sự phát triển của tảo; dùng Fomaline có nồng độ từ 10 – 15ml/m3 phun xuống ao để tiêu diệt vi khuẩn ngoài môi trường, sau 12 giờ tiến hành thay nước sạch và cho tôm ăn liên tục 5 ngày kết hợp với kháng sinh Furazolidon hoặc Oxytetracylin với liều lượng 40 – 50mg/kg tôm/ngày.

Ngày nay, để phát hiện tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, người ta thường dùng phương pháp kiểm tra bằng máy PCR theo từng thời kỳ. Nếu máy cho kết quả (+) thì ao nuôi đã bị nhiễm bệnh, kết quả (-) thì ao nuôi đang trong thời kỳ an toàn. Khi phát hiện ra tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, điều vô cùng quan trọng là phải có biện pháp ngăn chặn, không cho lây sang các ao khác. Biện pháp này sẽ giảm được thiệt hại rất nhiều đối với nghề nuôi tôm sú.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-than-do-dom-trang-o-tom-su-1-8623.html

Qui Trình Công Nghệ Nuôi Tôm Sú Công Nghiệp

1. Chuẩn bị ao lắng

Nước mặn / lợ được đưa vào ao lắng, trữ lắng 7-10 ngày, sát trùng, diệt mầm bệnh bằng clorin 15-30ppm (theo qui trình sử dụng clorin).

Qui Trình Công Nghệ Nuôi Tôm Sú Công Nghiệp

2. Chuẩn bị ao nuôi

1.1 Cải tạo ao: Tháo cạn nước trong ao, cạo bỏ bùn và bã hữu cơ đáy ao sang khu vực chờ xử lý, rửa sạch nền đáy, cầy lật rồi san bằng đáy.

1.2. Sát trùng đáy ao bằng vôi bột với liều lượng thích hợp tùy theo pH đất đáy ao, phơi khô khoảng 1 tuần (nhưng không được phơi quá nắng đến mức nứt nẻ đất)

1.3. Kiểm tra, bảo trì hệ thống quạt nước và hệ thống cung cấp oxy.

1.3. Lấy nước đã xử lý từ ao lắng vào ao nuôi (nên qua túi lọc), chiều cao nước: 0,8-1,2m.

3. Gây màu nước (tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao)

Trước khi thả tôm giống 7 ngày, sử dụng phân DAP và bột dinh dưỡng (đậu nành…) hoà với nước và  bón ao hàng ngày đến khi đạt độ trong 0,3-0,4m.

4. Thả tôm giống:

Sau giai  chuẩn bị, khi các chỉ tiêu pH, độ mặn, độ trong, màu nước… đạt yêu cầu, có thể thả tôm giống. Post thả nên chọn loại Pl15-Pl20, cần thuần hoá tôm giống để thích nghi với nuớc trong ao trong vòng 1-3 giờ . Tôm giống mới vận chuyển về nên thả túi xuống ao chừng 15-30 phút để nhiệt độ giữa nước trong túi tôm và nhiệt độ nước trong ao cân bằng. Sau đó nên đổ các túi tôm vào thau, tránh để tôm dính lại trong túi, múc nước ao pha vào thau dần dần, mỗi lần 1 ít. Vừa pha vừa quan sát tôm đã thích nghi được thì thả vào ao nuôi. Tôm chưa thích nghi khi thả ra thường bơi nổi trên mặt nước, vẻ yếu ớt.

Đứng ở đầu hướng gió, thả tôm giống ra từ từ, tránh làm đục nước ao. Sau khi thả xong quan sát khả năng phân tán của tôm trong ao nuôi, nếu tôm tụ lại từng đám thì dùng tay hoặc thau khua nước nhè nhẹ để phân tán tôm đều trong ao.

Sau khi thả tôm xong, cần theo dõi hàng ngày để tính tỉ lệ sống, xác định lượng tôm có trong ao để điều chỉnh thức ăn khi nuôi.

Nên thả tôm lúc thời tiết mát mẻ, tốt nhất là thời điểm từ 5-7 giờ sáng hoặc 4 – 6 giờ chiều. Không nên thả tôm lúc trời sắp mưa hoặc đang mưa to.

Mật độ thả tuỳ phương thức nuôi: quảng canh cải tiến (dưới 5 con/m2), bán thâm canh (10 – 20 con/ m2 ), thâm canh (trên 25 con/ m2) ngoài ra còn thùy thuôc vào kích cỡ tôm thả nuôi, mùa vụ sản xuất.

5. Chăm sóc ao nuôi tôm

5.1. Cho ăn: nhà cung cấp thức ăn phải cung cấp cho bạn bảng hướng dẫn cho ăn, trong đó gồm:
số lần cho ăn trong ngày
tỉ lệ thức ăn theo các bữa trong ngày
lượng  thức ăn tỉ lệ theo tuổi và trọng lượng của tôm
tỉ lệ thức ăn cho vào vó (sàng ăn).
thời gian kiểm tra vó sau khi cho ăn.

Có thể sử dụng thêm các thức ăn tăng cường sinh trưởng cho tôm phối trộn chung với thức ăn.

Lưu ý cho tôm ăn tránh các khu vực dơ trong ao, khi tôm lột vỏ nhiều nên giảm lượng thức ăn, khi tôm yếu / bệnh  hoặc nước trong ao bẩn/ đục cũng nên giảm bớt lượng thức ăn.

5.2. Kiểm tra tôm:
Thường xuyên quan sát tôm, nhất là vào ban đêm, theo dõi để phát hiện những bất thường.
Quan sát màu sắc.
Kiểm tra các bộ phụ: chân, râu, …
Kiểm tra mang
Kiểm tra thức ăn trong hệ tiêu hoá
Kiểm tra cường độ bắt mồi và các hành vi khác của tôm.
Xét nghiệm vi khuẩn, PCR  định kì.
Chài tôm để kiểm tra trọng lượng trung bình của tôm, theo dõi sự tăng trọng của tôm và tính toán lượng thức ăn phù hợp. Theo Việt Linh nên chài tôm vào lúc trời mát sáng sớm hoặc chiều 4-6g)

5.3 Kiểm tra nước:
Kiểm tra pH: 2 lần/ngày (sáng, chiều)
Kiểm tra độ trong của nước, Đo hàm lượng oxy hoà tan, Đo độ mặn, Đo độ kiềm: hàng ngày
Đo sulfat, đo amonia, nitrat, nitrit, vi khuẩn, tảo: hàng tuần

Thay nước (một phần) hoặc xử lý (vi sinh, hoá chất) khi các chỉ tiêu đo không đạt yêu cầu (biến động pH lớn trong ngày, độ trong giảm quá nhiều …)

Sử dụng thêm các sản phẩm sinh học để làm sạch nước và đáy ao trong suốt quá trình nuôi.

5.4. Kiểm tra ao:
Kiểm tra bờ, cống, mương, lưới ngăn cua… hàng ngày
Vệ sinh sàng ăn (vó), vớt tảo (láp láp), bọt…

5.5. Quạt nước và sục khí:

– Thời lượng quạt nước và cấp oxy tăng theo tuổi của tôm.
từ 1-5 tuần đầu: quạt 1 giờ/ngày
từ 5-8 tuần tuổi: quạt từ 2- 4 giờ/ngày
từ 9-12 tuần tuổi: quạt từ 6-8 giờ/ngày
từ 13-15 tuần tuổi: quạt từ 9-10giờ/ngày
từ 15-thu hoạch: quạt 11-12 giờ/ngày

– Sục khí chạy máy sục khí thường xuyên vào ban đêm, theo Việt Linh vào những ngày có mưa hay ít nắng, thời gian chạy sục khí cũng tăng theo tuổi tôm:
Tháng thứ 1: 4-8 giờ/ngày
Tháng thứ 2: 8-12 giờ/ngày
Tháng thứ 3:12-18 giờ/ngày
Tháng thứ 4: 18-24 giờ/ngày

6. Thu hoạch:

Tùy theo thị trường, và môi trường ao nuôi, tình hình sức khoẻ của tôm… mà quyết định thu hoạch. Trọng lượng tôm lí tưởng khi thu hoạch là >= 25g/con.

Thu tôm bằng phương pháp xả cống hoặc kéo cào (xung điện).

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/qui-trinh-cong-nghe-nuoi-tom-su-cong-nghiep-8641.html

Quy Trình Nuôi Tôm Sú Thâm Canh Và Bán Thâm Canh

Dựa trên nền tảng quy trình nuôi tôm thâm canh – bán thâm canh (TC-BTC) mà các ban, ngành chuyên môn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo;

Quy Trình Nuôi Tôm Sú Thâm Canh Và Bán Thâm Canh

Trên cơ sở trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất của các hộ nuôi thành công trong tình hình bệnh dịch của nhiều năm trước và trong năm 2011;

Để giúp người nuôi hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro do dịch bệnh Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bạc Liêu khuyến cáo quy trình nuôi tôm TC-BTC đang áp dụng thành công cho đối tượng tôm sú, tôm thẻ chân trắng như sau:

1.Cải tạo ao:

1.1 Xử lý đáy ao:

Sau mỗi vụ nuôi, cải tạo lại ao đầm nhằm loại bỏ các chất thải tồn lưu ra khu vực ao chứa chất thải, gia cố mái bờ xử lý triệt để rò rỉ. Đối với những ao nuôi trước đây có sử dụng các loại hoá chất, thuốc trừ sâu, hoặc nuôi nhiều vụ liên tục, nên cày xới đáy ao, phơi khô, sau đó lọc nước ngâm đáy ao khoảng 3 – 5 ngày hút nước ra ngoài và phơi đáy cho đến khô nứt nẻ. Kiểm tra pH đáy ao, nếu pH> 6 bón vôi CaO hay CaCO3 từ 70 – 100 kg/ 1000 m2, nếu pH

Chú ý: Không nên san ủi đáy ao quá sâu (> 1,8 m) dễ dẫn đến ao nuôi có độ pH thấp do gặp tầng sinh phèn, tôm nuôi chậm lớn do khó lột xác.

1.2 Lọc nước:

Cấp nước vào ao lắng rồi chuyển qua đầy ao nuôi bằng máy bơm hoặc cống. Cần có túi lọc bằng vải kate để hạn chế tối đa tôm, cá tạp xâm nhập vào ao.

– Tránh lấy nước trong các trường hợp sau:

+ Nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh.
+ Nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm.
+ Nước có nhiều váng bọt, màng nhầy, nhiều phù sa đen lơ lững.
+ Không lấy nước khi thủy triều đang lên. (Nên lấy nước bắt đầu bình để hạn chế các chất phù sa lơ lững vào ao).

– Nên lấy nước vào ao nuôi qua hệ thống ao lắng, ao chứa vì:

+ Nước ở đây đã được lắng lọc phù sa và các loại rong tảo tạp, cá tạp.

+ Nguồn nước lưu giữ trong ao lắng, ao chứa được lấy vào trước đó 10 – 15 ngày, các mầm bệnh tiềm ẩn trong môi trường sẽ giảm do không tìm được ký chủ trung gian.

1.3 Xử lý nước:

Sau khi lấy đủ mực nước trong ao, để ổn định 2 – 3 ngày. Những hộ diện tích ít không có hệ thống ao lắng, ao chứa cần để ổn định nước trong ao 10 – 20 ngày) tiến hành diệt giáp xác bằng sản phẩm chuyên dùng trong nuôi thủy sản (không chứa các chất cấm sử dụng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Sau 1 – 3 ngày chạy quạt đều, trung bình ngày 4 – 6 giờ để kích thích cho trứng, ấu trùng cá tạp có trong nước nở hết và tiến hành diệt tạp, sử dụng Saponin 15 – 20 kg/1.000 m3 nước. Sau 3 – 5 ngày tiến hành diệt khuẩn, sản phẩm được sử dụng nhiều là Iodine, Virkon, Finishnano…(sử dụng lúc 8 giờ hoặc 16 giờ).

1.4 Gây màu nước:

Thực hiện gây màu nước sau khi đã diệt khuẩn từ 3 – 7 ngày. Đây là khâu quan trọng nhằm tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Gây màu tốt giúp ổn định môi trường nước, hạn chế được tôm bị sốc giúp tăng tỉ lệ sống: sử dụng vôi Dolomite hoặc CaCO3: 15 – 20 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng phân gây màu chuyên dùng như TA-ALGAUP: 20 kg/1.000 m3, hoặc sử dụng phân vô cơ NPK, DAP (2 – 3 kg/1.000 m3) hoặc sử dụng theo phương pháp truyền thống: sử dụng cám gạo, bột đậu nành nấu chín, ủ chua (2 – 3 kg/1.000 m3) sử dụng liên tục 3 – 5 ngày. Kiểm tra độ trong khi đạt 30 – 40 cm thì tiến hành cấy vi sinh.

Mục đích cấy vi sinh là để phân hủy các cặn hữu cơ lơ lững, các xác tảo chết tích tụ do dùng hóa chất diệt khuẩn trước đó, đồng thời tạo nguồn vi khuẩn có lợi giúp môi trường ao nuôi ổn định, tạo điều kiện cho tôm nuôi phát triển tốt ngay từ đầu. Tiến hành kiểm tra lại các yếu tố môi trường nếu nằm trong ngưỡng thích hợp: pH: 7,5 – 8,5 dao động trong ngày không quá 0,5: độ kiềm ≥ 70, độ mặn < 30 ‰, các chỉ tiêu H2S, NH3…= 0 thì tiến hành thả giống.

2. Phương pháp chọn và thả giống:

2.1 Chọn giống

Tôm giống tốt sẽ cho tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt. Cần áp dụng các bước sau:

a. Chọn bằng cảm quan qua các đặc điểm như:

Kích cỡ, màu sáng, sắc tố thể hiện rõ, đôi râu khép lại, các đốt bụng thon, dài, cơ bụng căng đầy, thịt đầy vỏ, đầu và thân cân đối. Tôm bơi ngược dòng nước, bám vào thành bể tốt. Phản xạ tốt khi gõ vào dụng cụ chứa. Phụ bộ tôm hoàn chỉnh, không có ký sinh trùng bám. Đường ruột đầy thức ăn. Không bệnh phát sáng.

b. Sốc formol: trước khi xét nghiệm nên sốc formol 70 – 100 ppm, thời gian 30 phút, hoặc sốc độ mặn bằng cách giảm đột ngột độ mặn xuống 50%, nếu tỉ lệ chết < 10% là đạt yêu cầu.

c. Chọn qua xét nghiệm để phát hiện, loại bỏ mẫu tôm yếu, nhiễm virus đốm trắng, đầu vàng, MBV…

2.2 Thả giống

Kích thước tôm giống thả: đối với tôm sú tốt nhất là thả giống khi đạt kích cỡ Post 12 -15. Đối với tôm thẻ chân trắng tốt nhất là Post 10 – 12.

Mật độ thả: Tùy vào điều kiện kinh tế, mức đầu tư và kỹ thuật của từng hộ, đối với tôm sú nên thả từ 10 – 20 con/m2; tôm thẻ chân trắng từ 50 – 100 con/m2.

Thả giống đúng kỹ thuật cũng góp phần tăng tỷ lệ sống của đàn tôm. Trước khi thả giống nên ngâm các bọc chứa tôm giống trong nước ao khoảng 15 phút để cân bằng nhiệt độ giữa nước trong bọc chứa tôm giống và nước ao nuôi. Thả tôm vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát là tốt nhất.

3. Chăm sóc và quản lý:

3.1 Chăm sóc:

Hiệu quả kinh tế phụ thuộc rât nhiều vào thức ăn, cách cho ăn, sử dụng thuốc thú y thủy sản phòng ngừa bệnh, các chất khoáng vi lượng… Cần cho tôm ăn bằng thức ăn công nghiệp (CN) ngay sau khi thả giống, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, số lượng, cỡ mồi phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

– Tháng nuôi thứ 1: Ngày đầu tiên cho ăn 1,2 – 1,5 kg/100.000 con giống, cứ 2 ngày tăng 200 gam/100.000 con giống, 15 ngày sau khi thả giống đến khi thu hoạch sử dụng các sản phẩm thuốc thú y thủy sản có chức năng phòng ngừa các bệnh đường tiêu hóa, bệnh gan và cung cấp các Vitamin, các khoáng cần thiết giúp tôm tăng cường sức đề kháng (mỗi loại 5 – 10 gam/kg thức ăn). Các sản phẩm này sau khi phối trộn được bao bọc bằng 1 trong các loại chất kết dính: dầu mực, dầu cá hoặc các sản phẩm thương mại có tính năng kết dính khác, lượng dùng 15 – 20 gam/kg thức ăn.

– Tháng nuôi thứ 2 đến thu hoạch: điều chỉnh thức ăn trong ngày thông qua sàn ăn, chú ý những ngày mưa hoặc nắng gắt chỉ sử dụng 70 – 80% lượng thức ăn đã định, tránh hiện tượng thức ăn dư thừa làm ô nhiễm môi trường ao nuôi, tôm dễ phát sinh bệnh. Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, đảm bảo chu kỳ nuôi hệ số thức ăn dao động 1,3 – 1,6.

3.2 Quản lý:

Khi nuôi tôm ở mật độ dày, nhất là trong nuôi tôm thẻ chân trắng thì tất cả hệ thống sinh thái của môi trường nước đều thay đổi hoàn toàn so với những điều kiện tôm sống ngoài tự nhiên. Rất nhiều diễn biến phức tạp và sự cố xảy ra hàng giờ, hàng ngày. Dùng vi sinh đúng liều lượng sẽ giúp cân bằng hệ sinh thái, kích thích vi sinh vật có lợi lấn át vi sinh vật có hại gây bệnh cho tôm, tiết kiệm chi phí và ao nuôi luôn ổn định, an toàn trong suốt quá trình nuôi.

– Trong tháng nuôi 1: Chú ý gây và giữ màu nước ao nuôi, tránh trường hợp nước ao trong kéo dài sinh tảo đáy (laplap) hoặc tảo phát triển quá mức gây hiện tượng thiếu oxy về sáng, có thể gây ra hiện tượng tôm đóng rong. Định kỳ 10 – 15 ngày sử dụng vi sinh 1 lần.

– Tháng nuôi thứ 2 đến khi thu hoạch: Tôm lớn nhu cầu oxy cao nên nhất thiết không để tảo phát triển nhiều trong ao. Trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 90% các ao nuôi tôm TC-BTC đều có độ kiềm thấp < 80 ppm, đây là yếu tố quan trọng tác động đến chu kỳ lột xác và sự phát triển của tôm nuôi.

Vì vậy, định kỳ hoặc khi thấy tảo trong ao phát triển mạnh hoặc màu nước thay đổi, độ kiềm thấp…dùng vôi CaCO3 10 – 20 kg/1.000 m3 hoặc sử dụng khoáng tạt No79: 1 kg/1.000 m3, sử dụng lúc 20 – 21 giờ tối, trưa hôm sau cấy vi sinh (sản phẩm chất lượng, có uy tín, thương hiệu) nhằm phân hủy các chất thải, xác tảo, mùn hữu cơ đáy ao, tạo nên môi trường trong sạch, pH, độ kiềm ổn định giúp tôm phát triển tốt.

– Hệ thống quạt nước, hỗ trợ oxy trong ao nuôi TC-BTC là không thể thiếu, nhất là đối với nuôi tôm thẻ chân trắng. Tùy diện tích ao, mật độ nuôi mà bố trí hệ thống này cho hợp lý. Trong quá trình nuôi đặc biệt chú ý vào thời điểm 19 – 21 giờ oxy trong nước ao giảm dần và 01 – 05 giờ sáng, là thời điểm oxy thấp nhất, nhất là vào những ngày thời tiết thay đổi nắng – mưa,…nên rất cần phải vận hành hệ thống này với tốc độ trung bình 80 – 90 vòng/phút.

– Trang thiết bị dụng cụ cần sử dụng riêng biệt, vệ sinh cá nhân, dụng cụ trước và sau khi sử dụng.

3.3 Những sự cố thường gặp

Khi trong ao nuôi tôm có biểu hiện: Mòn đuôi, đen mang, đứt các phụ bộ, sắc tố xấu, phát sáng hoặc màu nước có biểu hiện khác thường…là các bệnh do vi khuẩn, môi trường gây ra, Cần sử dụng vôi CaCO3 lượng dùng 20 – 30 kg/1.000 m3, hoặc khoáng tạt 1 kg/1.000 m3 sử dụng buổi tối trưa hôm sau cấy vi sinh (loại chất lượng và có uy tín trên thị trường) liều dùng gấp 2 – 3 lần so với dùng định kỳ, sử dụng liên tục trong 2 – 3 ngày. Trong ao xuất hiện tảo lam, tảo đỏ, laplap đáy dùng các loại sản phẩm có chức năng diệt tảo (khi sử dụng cần chuẩn bị sẵn oxy bột đề phòng khi có hiện tượng tôm nổi đầu), sau 2 – 3 ngày cấy vi sinh.

Trong trường hợp tôm nuôi bị nhiễm các bệnh do virus, đối với tôm lớn cần thu hoạch ngay, tôm nhỏ cần xử lý (diệt bỏ) tại ao, có biện pháp cách ly đối với các ao còn lại như là dùng lưới rào ngăn cua còng từ ao nhiễm bệnh bò sang, sát trùng bờ ao bằng vôi CaO hoặc CaCO3 20- 30 kg/100 m2 bờ…sau khi diệt bỏ tối thiểu 7 ngày mới xả ra ngoài môi trường.

Chú ý: Tất cả các loại vi sinh đều sử dụng vào thời điểm có nắng hoặc nếu thời tiết lạnh, mưa, cần sục khí để nhân sinh khối tăng tính hiệu quả.. Không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào để cắt tảo hay kích thích tôm lột hoặc sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi khi tôm đang phát triển bình thường để tránh có những sự cố đáng tiếc xảy ra như là tôm nổi đầu do sử dụng hóa chất làm ao mất tảo hay tôm “óp” do kích lột nhiều lần khi chưa tới chu kỳ lột, tôm chậm lớn do lạm dụng kháng sinh…

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-nuoi-tom-su-tham-canh-va-ban-tham-canh-8642.html

Nguyên Nhân Tôm Sú Chết Tại Xuân Trường (Nam Định) Vụ Nuôi 2006

Vụ nuôi tôm sú 2006 tại hai xã Xuân Vinh, xuân Hòa huyện Xuân Trường được kỳ vọng rất nhiều, nó cũng là nỗi lo canh cánh của những người dân một nắng hai sương nơi đây. Rồi đột nhiên tôm chết, chỉ trong khoảng 1 tháng (từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5), tỷ lệ số lượng ao nuôi tôm bị chết lên tới 90-95%.

Nguyên Nhân Tôm Sú Chết Tại Xuân Trường (Nam Định) Vụ Nuôi 2006

Vụ thất thu này là sự mất mát quá lớn đối với người nuôi tôm nơi đây, có những gia đình thua lỗ tới cả tỉ bạc sau vài năm nuôi tôm không thành công. Có nhiều nguyên nhân gây dẫn đến tôm nuôi bị chết, trong nghề nuôi trồng thủy sản ai cũng biết đó là do môi trường nuôi, bệnh, chất lượng con giống, thức ăn và …

Để trả lời cho câu hỏi đâu là nguyên nhân của tôm chết hàng loạt, chúng tôi đã tìm hiểu thực tế và đi sâu phân tích một số nguyên nhân chính ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành công hay thất bại của một vụ nuôi như sau: Đó là yếu tố Vị trí địa lý và môi trường vùng nuôi, quản lý vùng nuôi, dịch bệnh, khí hậu thời tiết và môi trường ao nuôi v.v. Đặc biệt là biến đổi của khí hậu thời tiết đầu vụ nuôi .

1. Những bất lợi về vị trí địa lý và môi trường:

Vùng nuôi Xuân Trường không tiếp giáp với biển nhưng có sông Sò chảy qua, sông là một nhánh nhỏ của sông Hồng chảy ra biển và nó là gianh giới tự nhiên giữa huyện Xuân Trường và Giao Thủy, khu vực ven sông phía hạ lưu chịu ảnh hưởng của thủy triều và nước mặn từ biển nên khu vực này có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ khá lớn.

Hai xã Xuân Vinh và Xuân Hòa nằm cạnh sông Sò và cách biển chừng 14 – 16km, được tỉnh và địa phương đầu tư chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm công nghiệp từ năm 2003, diện tích khoảng 102 ha. Vị trí khu nuôi được xây dựng trên vùng cao triều, nguồn nước cấp được lấy trực tiếp từ sông Sò.

Đặc điểm của sông Sò: Sông nhỏ, độ sâu thấp, dòng chảy chậm, nước thường xuyên đục, độ mặn thấp do ảnh hưởng của nước ngọt. Nước sông lên xuống phụ thuộc thủy triều nên việc chủ động lấy nước vào khu nuôi gặp khó khăn. Hệ thống kênh cấp và thải hoàn chỉnh và riêng biệt, nhưng kênh thải lại xả nước trực tiếp ra sông, ngay gần cống cấp (nước thải của ao nuôi không qua xử lý), gây ô nhiễm cho nguồn cấp tại chỗ và các khu nuôi khác. Mặt khác nó lại chịu ảnh hưởng nước thải từ các khu nuôi khác thải ra tương tự. Ngoài ra phía thượng lưu còn có nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh, (thuộc huyện Giao Thủy) chất thải của nhà máy được đổ trực tiếp vào sông.

Nền thổ nhưỡng khu nuôi có kết cấu chủ yếu là cát bùn, tỷ lệ khoảng 1/1. Dễ gây màu nhưng nước thường xuyên đục, thích hợp cho vi sinh vật đáy và mầm bệnh phát triển. Không thích hợp cho nuôi tôm sú vì môi trường đáy phù hợp phải là đáy cát.

Mực nước các ao nuôi đều thấp, có ao chỉ khoảng 70 cm, trung bình từ 80 – 90cm. Mực nước ao thấp cũng do người nuôi chủ động giảm thấp để gây màu trong thời gian 1 tháng đầu. Nhưng mức nước cấp đầy tối đa cũng chỉ được 120cm và rất khó duy trì (do khu nuôi ở vùng cao triều nên cao trình đáy khá cao so với mực nước biển).

2. Quản lý vùng nuôi và kết quả nuôi tôm sú từ 2003 đến 2006

Cả hai xã đều không thiết lập được cơ chế điều hành có hiệu quả từ xã, hợp tác xã xuống các hộ nuôi, cán bộ chuyên trách ít kinh nghiệm và không được đào tạo sâu về thủy sản. Mặt khác người nuôi với cách nghĩ thiển cận nên mạnh ai nấy làm, có gia đình các năm trước còn thuê kỹ sư nuôi về làm chuyên gia, tư vấn riêng. Cấp trên như Sở Thủy sản Nam Định, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Xuân Trường có quan tâm nhưng không thể quán xuyến hết.

Nhận thức của người nuôi còn hạn chế, đa số không chú trọng tới việc kiểm tra môi trường ao nuôi và dịch bệnh. Nguồn giống được mua từ nhiều địa phương khác nhau, hầu hết không qua kiểm dịch về bệnh.

Ao nuôi khi bị bệnh, mặc dù xác định là bị nhiễm virut Đốm trắng nhưng người nuôi không chủ động xử lý tôm bệnh và môi trường nước ao triệt để, thay vào đó họ còn vô tình hoặc cố ý xả nước từ ao bị bệnh ra kênh thải khu nuôi, dẫn tới dịch bệnh lây lan khắp vùng.

Tính đến năm 2006, khu nuôi này đã nuôi tôm sú được 4 năm (4 vụ). Năm đầu tiên nuôi thành công, nhưng từ năm thứ hai trở đi tôm nuôi bắt đầu chết, số hộ nuôi bị chết tăng dần theo các năm. Theo thống kê của hai xã, năm 2004 có khoảng 40-50% số ao nuôi bị chết, năm 2005 có 60-70% và năm nay có 90-95% số ao nuôi tôm bị chết.

Nguyên nhân do nhiều yếu tố tác động như: Khí hậu thời tiết, môi trường ao nuôi, nguồn giống, chăm sóc, thức ăn… Trong đó phải kể tới yếu tố môi trường và bệnh, đặc biệt là bệnh đốm trắng, trong các ao nuôi đã xác định được bệnh Đốm trắng bằng cảm quan và bằng test kiểm tra nhanh.

3. Vấn đề dịch bệnh

Bệnh đốm trắng đã xuất hiện tại đây từ năm nuôi thứ hai, do khâu xử lý bệnh không triệt để nên mầm bệnh còn tồn tại dai dẳng từ đó đến nay và gây hậu quả nghiêm trọng cho những vụ sau. Ngoài ra còn gặp các bệnh khác như: Bệnh MBV, Đầu vàng, Sinh vật bám (SVB)….

Thông thường tôm sú nuôi ở miền Bắc, phải sau từ 2 – 3 tháng nuôi bệnh Đốm trắng mới phát triển. Năm 2006 do điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt, nên bệnh Đốm trắng đã xuất hiện sớm hơn, tuy nhiên bệnh không phải là nguyên nhân ban đầu, không phải là nguyên nhân chính làm tôm chết hàng loạt, bệnh Đốm trắng tuy có phát hiện nhưng mới chỉ ở mức độ cảm nhiễm nhẹ hoặc có những mẫu tôm không phát hiện được bệnh. Tôm chết chủ yếu do điều kiện môi trường xấu, thay đổi bất lợi, làm tôm nuôi bị sốc và chết, bệnh chỉ là nhân tố cơ hội.

Kết quả kiểm tra mẫu bệnh của Nhiệm vụ quan trắc ngày 4/5/2006 cho thấy: Tại xã Xuân Vinh kiểm tra 10 ao nuôi, tôm chủ yếu bị nhiễm MBV và Sinh vật bám (SVB), Bệnh Đốm trắng, Đầu vàng không phát hiện. Xã Xuân Hòa kiểm tra 7 ao nuôi, đa số bị nhiễm MBV và SVB tuy nhiên cả 7 ao đều phát hiện bệnh Đốm trắng. Bệnh Đầu vàng không phát hiện. Các bệnh về Nấm, Vi khuẩn, Vibrio tổng số, Vi khuẩn tổng số cả hai xã đều có tỷ lệ nhiễm nhẹ hoặc không bị nhiễm .

Trên thực tế có nhiều ao nuôi, tôm chết hết sau vài ngày (5-7ngày), khi kiểm tra bằng cảm quan, có phát hiện dấu hiệu bệnh đốm trắng trên giáp đầu ngực. Nhưng có những ao tôm chết không hết, trong ao vẫn còn một số lượng nhỏ (ao Ông Năm, xuân Vinh có 3 ao), và không phát hiện được dấu hiệu của bệnh Đốm trắng.

4. Khí hậu thời tiết và Môi trường ao nuôi

Khí hậu thời tiết miền Bắc diễn biến rất phức tạp và ảnh hưởng nhiều tới mùa vụ cũng như kết quả nuôi tôm sú. Vụ nuôi tôm sú miền Bắc thường bắt đầu sau tiết Thanh Minh, thời điểm này vào khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4 dương lịch hàng năm, lúc này thời tiết đã xang mùa hè, những đợt nắng nóng đầu mùa bắt đầu xuất hiện, thời tiết cự kỳ nắng nóng và khó chịu.

Gió mùa đông bắc thường kết thúc muộn và kéo dài tới tận thời điểm này, năm nay giữa tháng 5 dương lịch, (13/5) Bắc Bộ vẫn còn chịu ảnh hưởng của đợt không khí lạnh khá mạnh, Người nuôi tôm miền Bắc rất sợ những đợt gió mùa đông bắc về muộn, có cường độ mạnh trong tháng 4 và 5, làm nhiệt độ thay đổi đột ngột, giảm mạnh trong thời gian ngắn. Theo kinh nghiệm dân gian, thường các năm có 2 tháng nhuận Âm lịch, thì gió bắc thường kết thúc muộn và nuôi tôm sú rất khó khăn, năm nay nhuận tháng 7 âm lịch.

Gió bấc heo may, gió Đông nồm (gió thổi từ phía chính đông) do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, của bão gần bờ cũng là nỗi ám ảnh đối với người nuôi. Nếu thời gian ảnh hưởng tới vùng nuôi ngắn khoảng 3-4 ngày, thì môi trường và tôm nuôi ít bị ảnh hưởng, khả năng tôm hồi phục nhanh. Nhưng thời gian ảnh hưởng kéo dài thì hậu quả khôn lường.

4.1. Diễn biến phức tạp của thời tiết trong vụ nuôi tôm năm 2006 tại Bắc bộ như sau:

• Không khí lạnh kết hợp với trời mưa

Ngày 28/4 không khí lạnh ảnh hưởng đến khí hậu miền Bắc. Trước đó là những ngày nắng nóng kéo dài, buổi chiều cùng ngày Thanh Hóa, Nam Định mưa rất to đến tận 17h chiều. Trời trở lạnh đột ngột, theo số liệu của Nhiệm vụ quan trắc cho thấy: Nhiệt độ nước ao nuôi có sự biến đổi lớn khoảng 7-10oC chỉ trong một ngày đêm: Sáng ngày 28/04 là 29,4oC, đến sáng ngày 29/04 nhiệt độ chỉ là 23,9oC), ban đêm nhiệt độ nước ao nuôi còn xuống thấp hơn nữa. (nhiệt độ nước phù hợp cho tôm sú là 25-33oC). Đây là thời điểm thời tiết bất lợi đầu tiên trong vụ nuôi tôm năm 2006, tôm nuôi đã chết rải rác sau khi trời mưa.

• Đợt nắng nóng tiếp theo

Sau đợt không khí lạnh trên, ngày 03/05 Miền Bắc chịu một đợt áp thấp nóng lục địa và xuất hiện một đợt nắng nóng mới, nhiệt độ không khí ở Đông Bắc Bộ tăng cao từ 34 – 35oC….

• Không khí lạnh kết hợp với bão Chan Chu

Đêm 12 ngày 13/5, Bắc Bộ lại chịu ảnh hưởng của đợt không khí lạnh nữa, hình thái thời tiết: Ngày nắng nóng, chiều và tối có mưa rào và giông, trời trở mát, lạnh về đêm. Nhiệt độ không khí Bắc Bộ từ 24 – 36 độ C, … Kiểu thời tiết này diễn ra trong vòng 2 đến 3 ngày liền ảnh hưởng rất xấu tới nhiệt độ nước ao nuôi.

Bão Chan Chu là cơn bão mạnh ngoài khơi, với sức gió mạnh và hoàn lưu rộng, kết hợp với đợt không khí lạnh từ ngày 12/05 – 16/05 tạo ra một kiểu thời tiết mát mẻ ở Bắc Bộ, Gió bắc và gió heo may của cơn bão kéo dài từ ngày 12/05 đến tận 20/05 ( 7- 8 ngày).

Trận mưa sau bão Chan chu cướp đi hy vọng cuối cùng của người nuôi tôm, làm cho tỷ lệ ao nuôi tôm chết khoảng 90-95%. Tuy nhiên vẫn còn một số ao nuôi, tôm vẫn khỏe và phát triển bình thường. Nhà ông Phức, Bí thư Đảng ủy xã Xuân Vinh còn 3 ao nuôi tôm su, ông Nhung 2 ao, ông kỷ 1 ao, ông Hạnh… và ông Thiếu xã Xuân Hòa hộ duy nhất còn sót 2 ao.

Tại HTX NTTS Hòa Bình, khu Năm Hòa, Xã Giao Lâm, huyện Giao Thủy, Nam Định, diện tích khu nuôi khoảng 16 ha, sau trận mưa này hầu như tôm bị chết hết, trước đó các ao nuôi tôm vẫn khỏe và chỉ chết lác đác. Sở thủy sản Nam Định kiểm tra test Đốm trắng 3 ao, thì 2 ao bị nhẹ và 1 ao không bị. Đặc điểm khu nuôi này là khu chuyển đổi từ đồng muối sang nuôi tôm (được 3 vụ), độ sâu mực nước thấp, đáy ao chứa phèn…nền đáy cát, nguồn nước lấy trực tiếp từ biển. Nhưng nguồn cấp và thoát dùng chung.

4.2. Tác động của thời tiết đối với môi trường ao nuôi

• Tác động của thời tiết nắng nóng: Nhiệt độ cao tạo điều kiện cho quá trình phân hủy yếm khí các chất hữu cơ trong ao nuôi, đặc biệt ở đáy ao, tạo ra nhiều khí độc tích tụ ở đáy (khoảng 20cm trong lớp bùn đáy). như H2S, CH4…. Do pH, nhiệt độ cao và ổn định nên H2S không thể giải phóng vào môi trường nước được.

• Tác động của không khí lạnh, áp thấp nhiệt đới và bão Người nuôi tôm miền Bắc rất sợ những đợt gió mùa đông bắc về muộn, có cường độ mạnh trong tháng 4 và 5, làm nhiệt độ thay đổi đột ngột, giảm mạnh trong thời gian ngắn. Theo kinh nghiệm thường các năm có 2 tháng nhuận Âm lịch, thì gió bắc thường kết thúc muộn và nuôi tôm sú rất khó khăn, năm nay (2006) nhuận tháng 7 âm lịch.

Gió bấc heo may, gió Đông nồm (gió thổi từ phía chính đông) do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, của bão gần bờ hoặc đổ bộ vào bắc bộ cũng là nỗi ám ảnh đối với người nuôi. Nếu thời gian ảnh hưởng tới vùng nuôi ngắn khoảng 3-4 ngày, thì môi trường ít bị ảnh hưởng, khả năng tôm hồi phục nhanh. Nhưng thời gian kéo dài thì hậu quả khôn lường.

Ảnh hưởng của bão Chan chu vừa qua kết hợp với không khí lạnh trước đó làm cho nhiệt độ nước ao nuôi xuống thấp kéo dài, nhiệt độ của đáy ao xuống càng thấp do nền đáy có tỷ lệ bùn cao (cát /bùn =1/1), độ sâu mực nước không đảm bảo (<100cm), tôm không thể vùi mình vào đáy để tránh rét, tôm bị yếu, rét, bị sốc do môi trường, bệnh có cơ hội phát triển dẫn tới chết nhiều trong các ao nuôi.

Các ao nuôi quạt khí hết công suất nhưng số lượng ao chết càng tăng, đến thời điểm ngày 19/05/2006, khu nuôi tôm Xuân Hòa, Xuân Vinh tỷ lệ các ao chết khoảng 70%.

Gió bắc, bão,và áp thấp thường gây mưa và làm nhiệt độ xuống rất thấp.Vì thời điểm này miền Bắc đang đầu mùa nắng nóng nên môi trường nuôi sẽ bị thay đổi đột ngột và gây sốc đối với tôm nuôi như phần trên đã đề cập.

• Tác động của trời mưa to sau nắng nóng do ảnh hưởng của không khí lạnh và bão Ảnh hưởng của hai trận mưa (một trận cuối tháng 4 và một cuối tháng 5) đối với tôm nuôi rất lớn, nó tạo ra những biến đổi bất lợi trong ao và đáy ao: Làm giảm pH nước, giảm độ mặn….Đặc biệt là giảm pH và Nhiệt độ tầng đáy làm tôm bị sốc, mặt khác trời mưa tạo thuận lợi giải phóng H2S từ đáy vào môi trường, ảnh hưởng xấu tới môi trường, làm giảm DO và gây độc cho tôm nuôi.

Hậu quả là tôm bị yếu, tác nhân gây bệnh có điều kiện phát triển, dẫn tới tôm chết rải rác ở trong các ao nuôi tại hai xã Xuân Hòa và Xuân Vinh ngay từ trận mưa đầu tiên (cuối tháng 4) và đến trận mưa cuối tháng 5 thì xóa sổ gần như hoàn toàn các ao nuôi (90-95%).

Số liệu phân tích môi trường cho thấy H2S các ao nuôi thu mẫu tăng cường (ngày 19/05) tại khu nuôi có hàm lượng khá cao, trung bình gần 0,10mg/l.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nguyen-nhan-tom-su-chet-tai-xuan-truong-nam-dinh-vu-nuoi-2006-8804.html

Nuôi Ghép Hàu Với Tôm Sú

Nhóm nghiên cứu của Khoa Nông Lâm Ngư- Đại học Vinh đã triển khai mô hình nuôi theo hướng này tại xã Hưng Hoà, thành phố Vinh, Nghệ An. Ao có diện tích 4.000 – 4.100 m2, mức nước 1,2 – 1,4m, độ mặn 25 – 15%o giảm dần từ đầu đến cuối vụ nuôi. ^Hai giàn quạt nước (24 cánh/giàn) được bố trí đảo chiều ở giữa ao nuôi.

Nuôi Ghép Hàu Với Tôm Sú

Tôm sú nuôi theo quy trình nuôi đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) của đề tài cấp nhà nước KC-06-20.NN. Mật độ tôm nuôi: 22 – 24 con/m2, cỡ tôm PL15. Sử dụng thức ăn Seahorse của hãng Grobest. Các chế phẩm sinh học sử dụng trong nuôi thực nghiệm gồm: Super clean, Pond-clear, BZT.

Thời gian nuôi: Tháng 4 đến tháng 8 trong năm.

Hàu giống thả nuôi sau khi thả tôm giống 10 – 15 ngày, cỡ giống 10 – 20 g/con, mật độ thả 130 – 150 con/giỏ, kích thước giỏ 30 x 40 x 10cm, thả 80 – 85 giỏ/ao. Treo các giỏ trên giàn dây, cách đáy 30 – 40cm. Các giàn nuôi được bố trí trước và sau hệ thống quạt nước, cách giàn quạt nước 8 -10m.

Sử dụng các phương pháp thường quy trong nghiên cứu NTTS để xác định các yếu tố: Độ trong, nhiệt độ nước, độ pH, kiềm, DO, hàm lượng NH3, H2S, độ mặn, BOD5, COD.

Các yếu tố pH, DO, nhiệt độ nước đo ngày 2 lần lúc 6 giờ 30phút đến 7 giờ sáng và 13-15 giờ chiều. Các yếu tố độ mặn, NH3, H2S, độ kiềm, độ trong đo hàng ngày vào buổi sáng từ 8 -10 giờ. BOD5 và COD đo định kỳ 15 ngày/lần.

Phương pháp theo dõi một số chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của tôm, hàu

+ Tỷ lệ sống của tôm, hàu

Số cá thể tại thời điểm xác định (con)

Tỷ lệ sống (%) = x 100

Số cá thể ban đầu (con)

+Khối lượng trung bình của tôm, hàu (Wtb)

Khối lượng mẫu (g)

Wtb=

Số cá thể trong mẫu (con)

+Tốc độ tăng trưởng khối lượng của tôm, hàu

Wtb lần cân sau (g/con) – Wtb lần cân trước (g/con)

Tốc độ tăng trưởng (g/ngày) = Khoảng thời gian giữa 2 lần cân (ngày)

+Năng suất tôm, hàu nuôi (Y)

Tổng sản lượng tôm thu được của ao nuôi (kg)

Y(kg/ha) = x 10 000

Diện tích ao nuôi (m2)

Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống của hàu sau 3 tháng nuôi đạt từ 67 – 78%. Như vậy, không có sai khác lớn về tỷ lệ sống giữa hàu nuôi ghép trong ao tôm và hàu nuôi ở các đầm nước lợ.

Sau 90 ngày nuôi, từ cỡ hàu giống khoảng 17,5g/con đã đạt kích cỡ từ 50,8g – 52,8g/con. Các cá thể hàu nuôi khá đồng đều, độ lệch chuẩn về khối lượng hàu có xu hướng tăng lên nhưng không quá lớn.

Khi nuôi thương phẩm hàu cửa sông trong đầm nước lợ cho thấy: Từ cỡ hàu 12,8 – 15,6g/con sau 3 tháng nuôi đạt cỡ 45 – 50 g/con (tính từ tháng nuôi thứ 3 đến tháng thứ 6). Như vậy, sự tăng trưởng khối lượng của hàu nuôi ghép trong ao tôm tương đương hàu nuôi thương phẩm trong đầm nước lợ. Thời gian đầu do quá trình vận chuyển và việc thay đổi môi trường sống từ tự nhiên vào trong ao tôm dẫn đến hàu yếu và tăng trưởng rất chậm. Từ tháng thứ 2, hàu tăng trưởng nhanh nhờ thức ăn dồi dào, điều này thể hiện rõ trên đồ thị gia tăng khối lượng hàu nuôi.

Năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình: Sau 4 tháng nuôi, với mật độ thả tôm giống 15 – 20 con/m2 đạt năng suất 1,5-2,5 tấn/ha và với mật độ thả 25 – 40 con/m2 đạt năng suất 4 – 6 tấn/ha. Như vậy, năng suất tôm nuôi trong mô hình thử nghiệm nuôi ghép này đạt từ 2,68 – 4,14 tấn/ha sau 4 tháng nuôi, mật độ thả 22- 24 con/m2 là phù hợp với quy trình.

Việc nuôi ghép hàu trong ao tôm có vai trò tích cực trong việc tăng năng suất tôm nuôi. Điều này có thể giải thích do sự ổn định hơn về môi trường nuôi, mặt khác các giỏ và hệ thống giàn nuôi hàu đã làm tăng diện tích sống, sạch cho tôm nuôi, nhất là với những tôm bị yếu hay bị bệnh.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-ghep-hau-voi-tom-su-9538.html

Nuôi Cá Dìa Trong Ao Đất Kết Hợp Tôm Sú

Cá dìa là một đặc sản của Thừa Thiên Huế, không chỉ người dân Huế mà cả khách du lịch đều biết đến giá trị thương phẩm của loài này. Nắm bắt nhu cầu thị trường, đồng thời được sự vận động của các cán bộ Trung tâm Khuyến ngư tỉnh, anh Nguyễn Văn Dưỡng ở thôn Triệu Thôn, xã Phú An, huyện Phú Vang đã mạnh dạn đầu tư hơn 5000 m2 ao đất của mình để nuôi cá dìa kết hợp với nuôi tôm sú.

Nuôi Cá Dìa Trong Ao Đất Kết Hợp Tôm Sú

Từ những kiến thức đã học hỏi từ các cán bộ kỹ thuật, anh Dưỡng cho biết cá dìa là đối tượng nuôi có nhiều ưu điểm phù hợp với điều kiện tự nhiên của Huế. Chúng là loài rộng nhiệt, rộng muối, chịu được biên độ dao động muối từ 5-37‰. Thức ăn của cá dìa là thực vật thuỷ sinh, mùn bã hữu cơ, đồng thời chúng vẫn có thể ăn thức ăn tổng hợp nên rất tốt cho việc cải thiện môi trường ao nuôi.

Các bước thực hiện trong quá trình nuôi cá dìa của anh Dưỡng như sau:

Cải tạo ao

Trước khi thả nuôi cá phải tiến hành cải tạo kỹ ao nuôi. Sau khi cày xới mặt ao, anh Dưỡng dùng 500 kg vôi bột rải đều mặt ao, đặc biệt bón nhiều ở những chỗ còn đọng nước.

Dùng phân vi sinh và phân NPK để gây màu nước với hàm lượng 10kg phân vi sinh/100m2 và 3kg phân NPK/100 m2.

Thả giống

Trên diện tích 5000 m2, anh Dưỡng thả 2500 con cá dìa giống cỡ 50-70g/con, 7.500 tôm sú giống.

Chăm sóc

Biết được cá dìa là loài ăn thực vật thủy sinh, mùn bã hữu cơ nên anh Dưỡng tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên như rong tảo. Ngoài ra anh còn tự chế biến thức ăn từ ngũ cốc, cá tạp. Trong quá trình nuôi, cá dìa cũng mắc phải một số bệnh như bệnh ký sinh trùng và bệnh nhiễm khuẩn nhưng sau khi xử lý bằng formol (100%) với nồng độ 100-150ppm thì cá hết bệnh.

Sau 3 tháng nuôi anh Dưỡng thu được 312 kg cá dìa thịt, 150 kg tôm sú, 100 kg cua và tôm đất. Cá dìa có trọng lượng bình quân 250g/con, tỷ lệ sống 50%. Sau khi trưừchi phí, anh Dưỡng thu lãi hơn 8 triệu đồng.

Mô hình nuôi cá dìa kết hợp nuôi tôm sú bước đầu thành công đã làm tăng thu nhập của gia đình anh Dưỡng. Cá dìa sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên nên chi phí thức ăn thấp. Tuy nhiên cần phải lưu ý lựa chọn con giống sạch, có chế độ chăm sóc tốt, đề phòng các bệnh, chủ động theo dõi các yếu tố môi trường vì cá dìa khá nhậy cảm với biến đổi thời tiết.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-ca-dia-trong-ao-dat-ket-hop-tom-su-9567.html

Chọn Tôm Sú Giống Bằng Cách Gây Sốc

Chọn tôm giống bằng cách gây sốc (stress test) là một phương pháp chọn tôm rất hiệu quả và đang được áp dụng rộng rãi cho các hộ nuôi tôm. Sau khi chọn được lô giống tốt bằng cảm quang, ta nên tiến hành gây sốc cho tôm để kiểm tra khả năng chịu đựng của tôm.

Chọn Tôm Sú Giống Bằng Cách Gây Sốc

Tôm có khả năng chịu đựng kém khi sốc thường là tôm bị nhiễm bệnh. Có thể dùng các phương pháp sau:

* Sốc Formol: cho khoảng 100-200 con tôm vào thau chứa Formol nồng độ 200-250 ml/m3 trong 30 phút. Sau đó khuấy tròn nước để tôm chết lắng vào giữa. Nếu tỷ lệ tôm chết không quá 10% là đàn tôm tốt.

* Sốc Virkon: dùng Virkon với nồng độ 20 g/m3, cũng cho vào từ 100-200 con tôm, sục khí trong thời gian 30 phút, số tôm bị nhiễm bệnh sẽ chết, tôm còn lại là tôm khỏe. Tỷ lệ chết dưới 10% là tôm tốt. Phương pháp này thường dùng để gây sốc cả đàn tôm để loại bỏ số tôm yếu và tôm mang mầm bệnh ra ngoài.

* Hạ độ mặn đột ngột: lấy mẫu khoảng 100-200 con tôm post, nếu nước trong bể ương tôm có độ mặn trên 20‰, ta cho thêm nước ngọt đúng bằng lượng nước mặn, tức là đã giảm độ mặn xuống một nửa, nếu độ mặn thấp hơn ta có thể cho tôm vào thẳng trong môi trường nước ngọt. Sau 2 giờ nếu tỷ lệ tôm chết dưới 5% là đàn tôm tốt.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/chon-tom-su-giong-bang-cach-gay-soc-9591.html