Quy trình kỹ thuật nuôi tôm sú cải tiến

Kỹ thuật quy trình nuôi tôm sú bán thâm canh, thâm canh, công nghiệp, quy trình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến và các bước để nuôi tôm sú không thể thiếu như: chọn ao và mùa vụ, hệ thống cống, cải tạo và xử lý ao, xử lý nước, chọn tôm sú giống, thả tôm, cho tôm ăn, và chăm sóc tôm để có cơ hội nuôi tôm thành công cao hơn. tag: ong nano-tube

Chọn địa điểm xây dựng ao

Xây dựng ao nuôi tôm sú ở vùng đã quy hoạch. Nền đất quy hoạch phải là đất thịt hoặc đất pha cát, ít mùn, có kết cấu chặt chẽ, giữ nước tốt, tiện lợi cho cấp và thoát nước. Chủ động nguồn cấp nước đảm bảo không bị ô nhiễm nước. Thuận lợi giao thông đi lại và đủ điện cung cấp.

Xây dựng ao nuôi tôm sú

1. Hệ thống ao nuôi theo quy trình nuôi tôm sú bao gồm: Ao lắng (chiếm 20 – 25% diện tích), ao nuôi (chiếm 60 – 70% diện tích) và hệ thống ao xử lý chất thải (10 – 15% diện tích).

2. Thiết kế ao ương: Tùy điều kiện mỗi hộ nuôi mà có thể thả nuôi trực tiếp hoặc thả ương trước khi đưa trực tiếp vào ao nuôi.

3. Thiết kế ao nuôi: Tùy diện tích mà thiết kế những ao nuôi nên có diện tích 1.500 – 3.000 m2, bờ ao 2 – 2,5 m, mức nước 1,4 – 2 m. Ao nuôi hình vuông hoặc có hình chữ nhật, góc ao nên được bo tròn. Rào lưới xung quanh để tránh các loài ký chủ gây bệnh cho tôm. Đáy ao bằng phẳng và nghiêng về hệ thống thoát. Bờ ao nên lót bạt để chống xói lở và giúp hạn chế rò rỉ.

Chuẩn bị ao nuôi theo quy trình nuôi tôm sú

1. Cải tạo ao (ao nuôi, ao lắng):

– Bước 1: Tháo cạn nước trong ao nuôi và ao lắng, sên vét đáy ao để loại bỏ các địch hại. Gia cố và lót bạt bờ ao để chống xói lở giúp hạn chế bị rò rỉ. Rào lưới để tránh các loài ký chủ trung gian gây bệnh từ ngoài vào. Tùy vào điều kiện và mật độ nuôi mà đáy ao nuôi có thể lót bạt nhằm hạn chế nước đục, giúp nâng cao độ hòa tan của ôxy khi đó tôm tăng trưởng tốt hơn.

– Bước 2: Bón vôi đá, tùy điều kiện pH trong đất mà bón.

Sau khi bón vôi đá, tùy chất đất mà có thể sử dụng thêm vôi nông nghiệp. Có thể thêm khoáng vi lượng làm tăng độ kiềm đối với ao lâu năm, nghèo chất dinh dưỡng theo quy trình nuôi tôm sú .

– Bước 3: Phơi đáy ao từ 5 – 7 ngày đến khi nứt chân chim thì lấy nước. Đối với những ao nuôi tôm không phơi được thì cần: bơm cạn hết nước, dùng máy đưa chất thải về góc cuối ao, bơm chất thải vào ao chứa thải, sau đó bón vôi đúng liều lượng như Bước 2. Sau đó cần cấp nước vào ao ngay ngày hôm sau để tránh xì phèn.

– Đối với ao mới: Ngâm rửa đáy ao khoảng 2 – 3 lần rồi xử lý.

2. Lấy và xử lý nước

– Bước 1: Lấy nước vào ao lắng (qua túi lọc), lắng từ 3 – 5 ngày.

– Bước 2: Cấp nước từ ao lắng sang ao nuôi (qua túi lọc) đạt 1,3 – 1,4 m; chạy quạt thêm 3 ngày cho trứng và giáp xác nở.

– Bước 3: Xử lý Chlorine nồng độ 30 ppm (30 kg/1.000 m3 nước) hoặc TCCA 20 ppm vào buổi tối để diệt khuẩn.

– Bước 4: Xử lý EDTA liều 2 – 3 kg/1.000 m3 nước để khử các kim loại nặng và độ cứng nước ao.

Chạy quạt liên tục trong thời kì xử lý nước để phân hủy dư lượng Chlorine có trong ao nuôi.

3. Gây màu nước

– Gây màu nước với mật đường + cám gạo + bột đậu nành (tỷ lệ 3:1:3) ủ trong 12 giờ. Liều lượng 3 kg/1.000 m3 nước ao nuôi, tạt liên tục 3 ngày vào 9 – 10 giờ sáng và kết hợp với vôi Dolomite 10 – 15 kg/m3. Khi nước ao nuôi chuyển sang màu tảo khuê (vàng hoặc nâu nhạt) hay xanh vỏ đậu thì dùng 3 kg mật đường/100 m3 nước để kết hợp cấy men vi sinh rồi sau đó thả giống theo đúng quy trình nuôi tôm sú đề ra.

– Đối với các ao khó gây màu nước, hay màu nước không bền thì nên bổ sung các thành phần khoáng chất, kết hợp dùng dây xích kéo đáy 2 lần/ngày.

– Kiểm tra và thay đổi các yếu tố môi trường hợp lý trước khi thả tôm: pH 7,5 – 8,5 (dao động trong ngày không quá 0,5); độ kiềm: 120 – 180 mg/l; độ mặn 5 – 25‰ (tốt nhất > 5‰); độ trong 30 – 40 cm; NH3 < 0,1 mg/l; H2S < 0,03 mg/l; hàm lượng ôxy hòa tan > 5 mg/l.

Chạy quạt liên tục ban ngày nhằm kích ứng tảo phát triển.

Thiết kế quạt nước quy trình nuôi tôm sú công nghiệp

Vị trí đặt cách bờ khoảng 1,5 m. Khoảng cách giữa hai cánh quạt tầm 40 – 60 cm và lắp so le nhau. Tùy theo ao mà bố trí cánh quạt nước tạo được dòng chảy tốt nhất, nếu mật độ nuôi lớn hơn 60 con/m2 cần lắp thiết bị cung cấp ôxy dưới đáy để đảm bảo đủ ôxy cho tôm nuôi theo quy trình nuôi tôm sú. tag: ong aero-tube

Xây dựng hệ thông quạt nước đúng theo quy trình nuôi tôm sú hiện đại

Quản lý ôxy hòa tan trong nước. Hệ thống cung cấp ôxy dành cho tôm chủ yếu sử dụng cánh quạt nhựa hoặc quạt lông nhím. Trong ao nuôi tôm nếu kết hợp được cả hai loại cánh quạt này theo tỷ lệ 1:1 là tốt nhất vì sẽ tạo dòng chảy tốt để tạo vùng cho ăn và sinh hoạt sạch cho tôm nuôi, tăng thêm  khả năng cung cấp ôxy hòa tan trong ao.

Chọn giống quy trình nuôi tôm sú giống

1. Chọn giống. Chọn con giống ở các địa chỉ có uy tín và nguồn gốc rõ ràng. Người nuôi có thể chọn bằng cảm quan hoặc qua xét nghiệm.

2. Thả giống. Thả ương với mật độ khoảng 600 – 1.000 con/m2. Mật độ thả nuôi: khoảng 30 – 80 con/m2. Chạy quạt trước khi thả giống tầm 6 giờ để đảm bảo đủ lượng ôxy hòa tan đạt 5 mg/l trở lên. Thuần tôm khoảng 30 phút rồi thả. Thả vào lúc sáng sớm hoặc thả vào chiều mát và theo hướng trên gió.

Chăm sóc và quản lý quy trình nuôi tôm sú

1. Cho ăn. Tùy điều kiện của từng hộ mà cho ăn theo cách thủ công hoặc cài đặt thiết bị máy cho ăn tự động nếu nuôi tôm với mật độ cao.

Khi tôm khoảng 15 ngày tuổi, thực hiện đặt sàn ăn và khi tôm 25 ngày tuổi thì thay đổi lượng thức ăn qua thời gian ăn hết thức ăn trong sàn kết hợp quy trình nuôi tôm sú bằng vi sinh để đạt hiệu quả cao nhất.

Cho ăn 4 – 5 lần/ngày.

2. Quản lý môi trường ao nuôi

– Kiểm tra độ pH, trong ao 2 lần/ngày vào lúc 7h và 15h, kiểm tra độ kiềm trong ao, NH3 3 ngày/lần để tùy chỉnh cho phù hợp.

– Trong quá trình sinh trưởng, tôm nuôi cần rất nhiều khoáng chất, do đó cần duy trì độ kiềm 120 mg/l trở lên bằng cách dùng vôi CaCO3 hoặc sử dụng Dolomite và hay bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm khoảng 3 – 5  ngày/lần giúp cho tôm nhanh cứng vỏ và lột xác đồng loạt.

– Định kỳ 7 – 10 ngày/lần cấy vi sinh để tăng cường thêm mật độ vi khuẩn lợi trong ao nuôi hoặc từ 7 – 10 ngày/lần diệt khuẩn cho ao nuôi kết hợp cấy thêm men vi sinh trở lại sau 48 giờ. Hạn chế lấy nước vào ao nuôi tôm, khi cần thì lấy nước vào ao lắng rồi xử lý Chlorine liều 30 kg/1.000 m3 đến khi dư lượng Chlorine trong nước hết thì bơm vào ao nuôi, mỗi lần cấp khoảng 20% lượng nước cho ao nuôi, vào lúc trời mát.

3. Quản lý sức khỏe tôm nuôi

– Hằng ngày quan sát các hoạt động bắt mồi và sức khỏe của tôm trong ao, xem biểu hiện các bên ngoài của tôm thông qua màu sắc, phụ bộ, thức ăn trong ruột… để có thể phát hiện các dấu hiệu bất thường.

– Dùng 2 sàn trở lên để kiểm tra sức khỏe của tôm nuôi để điều chỉnh khẩu phần ăn cho hợp lý. Định kỳ từ 7 – 10 ngày chài tôm để xác định tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng, sức khỏe tôm cũng như về trọng lượng, sản lượng tôm ở trong ao nuôi nhằm điều chỉnh thức ăn của tôm nuôi cho phù hợp.  Bổ sung thêm Vitamin C, thêm men tiêu hóa đường ruột, khoáng chất và có thể bổ thêm nhóm dinh dưỡng hỗ trợ giải độc trong gan trộn cho tôm ăn mỗi ngày theo  quy trình nuôi tôm sú đã đặt ra.

Thu hoạch

Thời gian theo quy trình nuôi tôm sú thường khoảng 90 ngày tuổi, tùy vào giá cả thị trường, nhu cầu người nuôi và chất lượng của ao nuôi. Khi tôm ăn đạt trọng lượng khoảng 15 – 20 g/con thì có thể thu hoạch. tag: máy sục khí nuôi tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-ky-thuat-nuoi-tom-su-cai-tien-5cd25785425cc53752d4ada2.html

Hiệu quả nuôi tôm sú 2 giai đoạn

Mô hình nuôi tôm 2 giai đoạn với nhiều ưu điểm vượt trội đang ngày càng “thịnh hành” ở nhiều tỉnh, thành nuôi tôm trọng điểm. Tại Cà Mau, tỉnh cũng đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ để nhân rộng. tag: ong nano-tube

Nuôi tôm 2 giai đoạn với nhiều ưu điểm vượt trội đang được nhân rộng

Hỗ trợ thiết bị ương giống

Năm 2018, Trung tâm Khuyến nông Cà Mau triển khai phương án Hỗ trợ thiết bị ương tôm sú giống trong nuôi tôm 2 giai đoạn tại 9 huyện, thành phố với quy mô 54 bể/54 hộ thực hiện, trong đó mỗi huyện 2 điểm, mỗi điểm 3 hộ. Cụ thể: Nuôi tôm quảng canh cải tiến (QCCT) 2 giai đoạn triển khai tại huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển, Thới Bình và Trần Văn Thời với 21 Tổ hợp tác thực hiện, cung cấp khoảng 12 triệu giống, thả cho 816 ha; Nuôi QCCT ít thay nước tại huyện U Minh, Đầm Dơi, Cái Nước và TP Cà Mau với 12 Tổ hợp tác thực hiện, cung cấp khoảng 6,9 triệu giống, thả cho 466 ha; Nuôi tôm – lúa tại huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời và TP Cà Mau với 12 Tổ hợp tác thực hiện, cung cấp khoảng 7 triệu giống, thả cho 470 ha.

Điểm nổi bật của quy trình nuôi tôm QCCT 2 giai đoạn đó là: tôm giống khi đem về ương trong bể có diện tích nhỏ, môi trường được xử lý tốt, quá trình chăm sóc quản lý giống như trại sản xuất giúp tôm khỏe mạnh, mau lớn, đạt tỷ lệ sống cao. Cùng đó, khi ương tôm giai đoạn 1 nước được lấy từ vuông nuôi nên các yếu tố môi trường tương đồng. Khi chuyển tôm xuống ao đất tôm không bị sốc, người nuôi có thể kiểm soát được mật độ tôm nuôi ở từng giai đoạn phát triển, nhờ đó rất dễ dàng chủ động lượng thức ăn bổ sung.

Việc hỗ trợ này tạo bước chuyển biến rõ nét về nhận thức của người dân trong việc ương, thuần tôm trước khi thả nuôi, tôm kích cỡ lớn thích nghi với môi trường để giảm hao hụt trước khi thả ra vuông nuôi ở giai đoạn hai. Kết quả, tổng lượng tôm của 54 bể ương đạt khoảng 30 triệu post, chuyển xuống vuông nuôi khoảng 21 triệu con, có 1.150 hộ sử dụng với diện tích nuôi hơn 2.100 ha. Từ đó, giúp nâng cao năng suất hiệu quả trong nuôi tôm 2 giai đoạn, năng suất tăng 20 – 30 so trước khi áp dụng mô hình. tag: ong aero-tube

Nuôi theo công nghệ Biofloc

Mô hình được Trung tâm Khuyến nông Cà Mau phối hợp với Phòng NN&PTNT huyện Năm Căn thực hiện, mang lại kết quả khả quan. Mô hình triển khai thực hiện với 6 bể ương tại 6 hộ trên địa bàn hai xã Đất Mới và Hiệp Tùng (3 bể/xã). Bể ương (100 m2/bể) được đặt trên mặt đất, thiết kế khung sắt bao quanh, bên trong lót bạt, thả 100.000 tôm sú giống, mật độ 1.000 con/m2. Các hộ tham gia được ngành chức năng hướng dẫn lý thuyết và hỗ trợ kỹ thuật.

Theo quy trình, sau 12 – 20 ngày, tôm sẽ chuyển ra vuông và tiếp tục quản lý về nguồn nước và có bổ sung thức ăn. Sau 3 – 4 tháng thả nuôi, nhiều hộ đã thu tỉa, tôm đạt đầu con và phát triển tốt. Ông Nguyễn Nghi Lễ, Trạm trưởng Trạm Khuyến nông huyện Năm Căn cho biết: “Tỷ lệ sống giai đoạn một từ 70 – 95% với thời gian ương từ 12 – 20 ngày tuổi. Hiện nay, các hộ đã thả nuôi giai đoạn hai, từ 2 – 4 tháng và các hộ cũng đã thu hoạch tỉa, trọng lượng trung bình 25 – 30 con/kg, ước năng suất đạt trên 700 kg/ha.

Theo ông Nguyễn Minh Đở (ấp Hiệp Tùng, xã Hiệp Tùng) – một hộ tham gia mô hình, trước kia vèo dùng lưới mành hoặc ở trong ao, khi cho ra vuông không xác định được còn bao nhiêu, nay khi thực hiện ương trên bể thấy hiệu quả, đạt 85 – 90%.

Ông Phan Văn Vũ (ấp Trại Lưới A, xã Đất Mới) cũng cho hay: “Bước đầu mình vèo trong 20 ngày, cỡ tôm đạt từ 2 – 3 cm thì đưa ra vuông. Trước khi đem ra vuông, cần xử lý men vi sinh xuống vuông rồi thuốc cá trước đó 3 ngày. Hiện nay, con nước này đang thu hoạch, trọng lượng tôm cỡ khoảng 32 – 34 con/kg, với giá khoảng 150 nghìn đồng/kg. Tỷ lệ sống khá cao, khoảng từ 70 – 80% trở lên. Mô hình này tôi thấy rất có hiệu quả”.

Từ hiệu quả đem lại, nuôi tôm 2 giai đoạn trở thành một trong những mô hình trọng điểm được Trung tâm Khuyến nông Cà Mau nhân rộng trong thời gian tới.

Ưu điểm của mô hình nuôi tôm 2 giai đoạn là tôm giống ương trong bể có diện tích nhỏ, môi trường được xử lý tốt, quá trình chăm sóc quản lý giống như trại sản xuất giúp tôm khỏe mạnh, mau lớn, đạt tỷ lệ sống cao; Khi ương tôm giai đoạn một, nước được lấy từ vuông tôm nên khi chuyển xuống ao đất tôm không bị sốc, người nuôi kiểm soát được mật độ tôm ở từng giai đoạn, từ đó chủ động lượng thức ăn bổ sung. tag: máy sục khí nuôi tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/hieu-qua-nuoi-tom-su-2-giai-doan-5cdbbc5f425cc54419592444.html

Bổ sung astaxanthin cho tôm sú bố mẹ và tôm sú thương phẩm

Một nhóm các nhà khoa học đã phát triển mô hình thí nghiệm để tìm ra liều lượng, thời gian bổ sung của các nguồn astaxanthin khác nhau trên tôm sú nuôi. Số lượng tối thiểu astaxanthin cần thiết cho sản xuất tôm ở quy mô thương mại đã được tính toán. tag: ong nano-tube

Bổ sung astaxanthin trên tôm giúp cải thiện màu sắc của tôm nuôi. Ảnh: LL/Tepbac

Một thành phần thiết yếu trong thức ăn tôm là carotenoids, một nhóm các chất sắc tố thực vật tan trong chất béo. Carotenoid là dạng sắc tố hữu cơ có tự nhiên trong thực vật và các loài sinh vật quang hợp khác như là tảo, một vài loài nấm và một vài loài vi khuẩn. Trong tôm, carotenoids giúp tăng sự tăng trưởng và tỷ lệ sống, cải thiện sức đề kháng với stress cũng như khả năng sinh sản của tôm, nhưng chúng được sử dụng chủ yếu để cải thiện màu sắc của tôm.

Màu sắc quyết định giá tôm trên thị trường, nơi tôm được phân loại và đánh giá dựa trên màu sắc của chúng, tôm có màu đỏ đẹp sau khi luộc chín được coi là chất lượng cao hơn và được người tiêu dùng chấp nhận hơn. Tôm nuôi không thể tự tổng hợp carotenoids do đó màu sắc phụ thuộc vào loại, số lượng và thời gian bổ sung carotenoids vào trong thức ăn.

Carotenoid thường bổ sung vào thức ăn tôm là astaxanthin. Astaxanthin đại diện lên đến 98% tổng số carotenoid có trong tôm và có sự tích tụ mô hiệu quả nhất khi so sánh với carotenoid khác.

Astaxanthin (Ax) là một carotenoid, sắc tố này từ lâu được ứng dụng rộng rãi trong thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm và cả trong thức ăn thủy sản. Nấm men Phaffia rhodozyma và vi tảo lục Haematococcus pluvialis được xem là hai nguồn giàu astaxanthin trong tự nhiên. Tuy nhiên astaxanthin tổng hợp chiếm hơn 95% tổng số astaxanthin bán trên thị trường. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm tự nhiên đang thúc đẩy ngành công nghiệp phải đánh giá so sánh giữa các nguồn astaxanthin tự nhiên và tổng hợp.

Những báo cáo trước đây cho thấy sự cần thiết của việc bổ sung Astaxanthin tôm he Nhật bản (M. japonicus). Hàm lượng tối ưu của Ax khác nhau ở từng giai đoạn của tôm: đối với giai đoạn ấu trùng và post hàm lượng Ax nên bổ sung từ 100 – 200 ppm, đối với giai đoạn tiền trưởng thành hàm lượng Ax nên bổ sung vào thức ăn dao động từ 400 – 800 ppm.

Bổ sung astaxanthin trong tôm thương phẩm

Trong nghiên cứu này các nhà khoa học tại Trung tâm macroalgal thuộc Đại học James Cook và MBD Industries đã tiến hành một nghiên cứu để xác định số lượng cũng như ảnh hưởng của các loại astaxanthin trong chế độ ăn và thời gian bổ sung vào thức ăn của tôm sú Penaeus monodon. Thí nghiệm sử dụng vi tảo lục Haematococcus pluvialis như một nguồn astaxanthin tự nhiên để so sánh với một nguồn astaxanthin tổng hợp (nguồn gốc từ Thụy Sỹ chứa 10 % astaxanthin)

Nghiên cứu có 2 thử nghiệm 

– Thí nghiệm (1) để xác định nồng độ astaxanthin (32.5–102.5ppm) và thời gian bổ sung (29-69 ngày) cho từng nguồn astaxanthin vào thức ăn tôm để đạt được màu sắc tôm như mong muốn.

– Thí nghiệm (2) hàm lượng tối thiểu của astaxanthin cần thiết cho tôm sú đạt được màu sắc mong muốn theo tiêu chuẩn thương mại. tag: ong aero-tube

Haematococcus pluvialis là một trong những nguồn tự nhiên hứa hẹn nhất của astaxanthin.
Việc cung cấp astaxanthin, tự nhiên hoặc tổng hợp, ở bất kỳ nồng độ hoặc thời gian bổ sung nào cũng không có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng hoặc sự sống còn của tôm. Tuy nhiên, màu sắc của tôm sau khi nấu bổ sung Astaxanthin tự nhiên có sự khác biệt khi so sánh với astaxanthin tổng hợp.

Kết quả cũng chỉ ra rằng nồng độ astaxanthin và thời gian bổ sung có ảnh hưởng đáng kể đến màu sắc của tôm nấu chín, nơi nồng độ astaxanthin cao trong thời gian bổ sung lâu hơn dẫn đến cải thiện màu sắc tôm ở mức 98 ppm trong 66 ngày cho astaxanthin tự nhiên và 90 ppm trong 63 ngày đối với astaxanthin tổng hợp.

Haematococcus pluvialis của Marguerite Porter/Science as Art
Các nhà khoa học lưu ý các kết quả chính của nghiên cứu của họ là màu sắc của tôm đã được cải thiện bằng cách sử dụng astaxanthin tự nhiên so với astaxanthin tổng hợp; tăng nồng độ và thời gian bổ sung dẫn đến tôm nấu chín với một màu sắc tương tự như tiêu chuẩn thương mại. Bổ sung astaxanthin trên tôm sú ở mức 98 ppm trong 66 ngày khi dùng astaxanthin tự nhiên và 90 ppm trong 63 ngày khi dùng astaxanthin tổng hợp để có màu sắc tôm sú đạt chuẩn thương mại (Angell, A., de Nys, R., Mangott, A., & Vucko, MJ (2018)).

Bổ sung Astaxanthin vào thức ăn nuôi vỗ tôm bố mẹ

Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Quang Huy, Vũ Văn Sáng, Vũ Văn In (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1) đồng thực hiện. Nghiên cứu được đăng trên Tạp chí NN&PTNT, số 11/2018.

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việc bổ sung astaxanthin có nguồn gốc từ chủng vi khuẩn Paracoccus carotinifaciens vào thức ăn nuôi vỗ tôm sú (Penaeus monodon) đến chất lượng sinh sản của tôm. Thí nghiệm bố trí với 5 nghiệm thức thức ăn, gồm:

  • A100: thức ăn viên (thức ăn tổng hợp) bổ sung 100 mg astaxanthin/kg + thức ăn tươi (50% mực và 50% hồng trùng);
  • A250: thức ăn viên bổ sung 250 mg astaxanthin/kg + thức ăn tươi;
  • A400: thức ăn viên bổ sung 400 mg astaxanthin/kg + thức ăn tươi;
  • LF: 100% thức ăn tươi
  • LF250: 100% thức tươi, bổ sung 250 mg astaxanthin/kg thức ăn tươi.

Tôm cái được đánh dấu phân biệt từng cá thể và nuôi trong các bể riêng rẽ, mỗi bể có thể tích 8 m3 . Tôm đực được nuôi chung trong một bể và cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn tươi sống. Tôm được cho ăn ngày 4 lần (7 h, 11 h, 17 h và 22 h). Đối với các nghiệm thức sử dụng thức ăn viên, thức ăn viên chỉ cho ăn 1 lần/ngày vào thời điểm 22 h, cho ăn thức ăn tươi sống vào các thời điểm còn lại. Kết quả thí nghiệm cho thấy tăng hàm lượng astaxanthin vào thức ăn nuôi vỗ không ảnh hưởng đến tăng trưởng của tôm nhưng có tác động tích cực đến chất lượng sinh sản của tôm. Bổ sung 400 mg astaxanthin/kg thức ăn vào thức ăn viên nuôi vỗ tôm sú bố mẹ đã nâng cao sức sinh sản và tỉ lệ nở của tôm. tag: máy sục khí nuôi tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bo-sung-astaxanthin-cho-tom-su-bo-me-va-tom-su-thuong-pham-5deb2108425cc5c97ec4c6af.html

Bệnh đen mang trên tôm sú, tôm thẻ, tôm hùm

Bài viết cung cấp nguyên nhân bệnh đen mang trên tôm và biện pháp điều trị.

Tôm bị đen mang do môi trường ô nhiễm. Ảnh: grist

1. Bệnh đen mang trên tôm sú, tôm thẻ

Nguyên nhân đen mang tôm:

– Bệnh đen mang là bệnh thường gặp ở tôm nuôi trong các ao nuôi có môi trường không tốt, mật độ nuôi dày. Môi trường nuôi bẩn có thể làm các mảnh vụn bám vào trong mang tôm làm cho mang tôm có màu đen. tag: ong nano-tube

– Tôm trong ao có hiện tượng bị đóng rong, các sinh vật bám như động vật đơn bào, vi khuẩn dạng sợi, tảo, nấm bám trên mang và bề mặt cơ thể của tôm. Các sinh vật này tạo điều kiện cho các chất vẩn hữu cơ bám và làm mang tôm chuyển màu.

– Khi mang tôm bị nhiễm vi khuẩn hay nhiễm nấm Fusarium này cũng làm xuất hiện các sắc tố melanin làm mang tôm có màu đen. Khi tôm nhiễm nấm Fusarium: Có thể thấy được sợi nấm khi soi tươi mang tôm bệnh bằng kính hiển vi. Các loài nấm thuộc giống Fusarium có trong nước ngọt, nước lợ và đất ở khắp nơi. Tất cả các loài tôm nuôi đều có thể bị nhiễm nấm. Tôm gần trưởng thành và trưởng thành thường bị nhiễm nặng. Tôm sú và tôm thẻ tương đối đề kháng được với nấm nhưng khi bệnh xảy ra rất khó điều trị.

– Tôm sống trong điều kiện pH thấp, có nhiều ion kim loại nặng như nhôm, sắt, muối của các kim loại này kết tụ trên mang của tôm làm nó chuyển màu đen.

Tôm bị đen mang do ký sinh trùng. Ảnh: fisherynation
– Nghiên cứu mới đây cho thấy tôm thẻ còn bị đen mang bởi một ký sinh trùng (Hyalophysa chattoni).

Triệu chứng:

– Mang và vùng mô nối mang với thân tôm có màu nâu hoặc đen. Khi nhiễm nặng các phụ bộ, chân và đuôi cũng bị đen.

– Tôm nổi đầu do thiếu ôxy, bơi lờ đờ trên mặt nước, dạt vào bờ.

– Tôm giảm ăn, chậm lớn và chết khi có thêm các tác nhân khác.

– Mang tôm bị vi khuẩn, nấm hoặc nguyên sinh động vật ký sinh phá hủy khi bệnh nặng.

Đen mang làm tăng số lần lột xác của tôm, sự lột xác giúp tôm loại bỏ các mang hư hại nhưng nhiễm trùng nhanh chóng trở lại và tiếp tục làm mang tôm bi đen. Đen mang làm tôm suy yếu nhanh chóng, tôm chậm tăng trưởng và có khả năng chịu đựng kém hơn(Frede và cộng sự, 2015).

Trị bệnh:

Khi có hiện tượng bệnh lý xuất hiện cần tìm hiểu xem tôm bị đen mang do nguyên nhân nào.

– Nếu đen mang do ao bị ô nhiễm: Trong ao có nhiều chất ô nhiễm hữu cơ do thức ăn dư thừa, tảo tàn, đáy ao có nhiều mùn bã hữu cơ, hàm lượng nitrit, nitrat, và các khí độc… cần cải thiện điều kiện môi trường bằng việc xi phong bùn đáy ao, dùng yucca hấp thụ khí độc sau đó sử dụng men vi sinh liều cao (việc này có 2 mục đính đó là phân hủy mùn bã và cạnh tranh với vi khuẩn có hại) đồng thời bổ sung vitamin C vào thức ăn.

Lựa chọn hóa chất phù hợp cho từng nguyên nhân gây bệnh.

– Nếu đen mang do vi khuẩn và nấm cần: sử dụng hóa chất diệt khuẩn tham khảo: Tiêu chí lựa chọn sát khuẩn trong nuôi tôm có thể sử dụng BKC để diệt khuẩn, iodine liều cao để diệt vi khuẩn và nấm sau 3 ngày cấy men vi sinh có lợi cho ao. tag: ong aero-tube

– Do pH nước thấp, trong nước nếu có nhiều ion kim loại nặng (nhôm, sắt) sử dụng vôi để tăng pH với liều 20kg/1000m3 nước, dùng Natri thiosulphate để hấp thụ các kim loại nặng.

Phòng bệnh:

– Tẩy dọn ao kỹ trước khi thả tôm. Nếu có thể nên thiết kế hố xiphong để gom bùn thải trong ao và định kỳ xiphong nền đáy.

– Lắng lọc kỹ nước trước khi cấp vào ao nuôi, dùng thuốc diệt cá để diệt vật chủ trung gian mang mần bệnh vào ao nuôi.

– Chọn mật độ nuôi phù hợp với tay nghề và kỹ thuật.

– Kiểm soát tảo trong ao, tránh tảo tàn đồng loạt (dùng đường, BKC…)

– Tăng cường sục khí để tăng hàm lượng ôxy nhằm phân hủy mùn bã hữu cơ và cất độc. Định kỳ dùng yucca để hấp thụ khí độc cho ao nuôi tôm và tăng liều yucca khi thời gian nuôi càng dài.

– Tránh dư thừa thức ăn, định kì dùng men vi sinh để giảm phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ trong ao, giữ đáy ao sạch.

– Bổ sung Vitamin C và men tiêu hóa vào thức ăn.

2. Bệnh đen mang trên tôm hùm

Đối với tôm hùm, bệnh có thể xuất hiện ở cả tôm con và tôm trưởng thành.

Triệu chứng:

– Mang tôm có những điểm đen, các tơ mang chuyển màu đen, nếu bệnh nặng sẽ thấy mang thối rữa toàn bộ.

– Thân tôm xuất hiện những đốm đen, mắt cũng có thể chuyển sang màu đen.

– Tôm bỏ ăn, hô hấp kém, nằm dưới đáy lồng và có thể chết hàng loạt.

Nguyên nhân:

– Do môi trường nước ô nhiễm, nồng độ khí độc NH3 và H2S trong môi trường cao làm cho sắc tố melanin phát triển tại các mô của mang bị phá hủy.

– Do nhiễm vi khuẩn dạng sợi Vibrio, nhiễm nấm Fusarium.

– Do ký sinh trùng sán lá đơn chủ (xuất hiện nhiều sau các cơn mưa).

Phòng ngừa:

– Kiểm tra chất lượng nước thường xuyên để xử lý kịp thời.

– Cho ăn thức ăn chất lượng tốt, kiểm tra và điều chỉnh lượng thức ăn hợp lý, không để thừa thức ăn làm ô nhiễm nước.

Xử lý:

– Treo những túi vải có chứa vôi ở giữa lồng tôm hoặc đặt ở những vùng đáy lồng nuôi bị ô nhiễm để diệt ký sinh trùng, nấm, vi khuẩn. tag: máy sục khí nuôi tôm

– Tắm cho tôm bằng formol hoặc sulfat đồng, thả nuôi ở một lồng khác.

– Dùng thuốc kháng sinh trộn vào thức ăn, chú ý dùng đúng loại thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian. Việc sử dụng kháng sinh chỉ có kết quả khi phát hiện bệnh sớm. Thời gian điều trị bằng kháng sinh từ: 5 – 7 ngày.

Nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm

Làm chơi ăn thiệt

Từ năm 2006, người dân địa phương tình cờ phát hiện dưới dòng nước đặc quánh phù sa của kinh Xáng Đông Hưng (xã Đông Thới, H.Cái Nước) có nhiều sò huyết tự nhiên, nhất là thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán. Sò lớn được bà con thu hoạch bán cho thương lái, sò nhỏ được vài hộ dân thu gom rồi thả vô vuông tôm. Việc sò tự nhiên nuôi xen canh trong vuông tôm sú lớn rất nhanh đã mở ra cơ hội mới cho người dân Đông Thới. Nhiều hộ dân bắt đầu thả sò giống nuôi thử rồi dần dà phát triển sang xã Trần Thới lân cận… tag: ong nano-tube

Gia đình ông Nguyễn Văn Tám, ở đầu kinh Thầy Tư, là một trong những hộ đầu tiên nuôi sò huyết thành công ở xã Đông Thới. Chỉ có 6 công đất vuông tôm quảng canh nhưng sau gần 7 năm nuôi sò huyết, gia đình ông Tám từ chỗ chỉ đủ ăn giờ đã sang, cố thêm được trên 9 công đất để nuôi tôm và sò huyết, trở thành hộ giàu của địa phương. Hiện gia đình ông Tám đang chuẩn bị khởi công xây dựng căn nhà mới. Ông Tám cho biết: “Nuôi sò huyết không bao giờ bị lỗ, tệ lắm cũng “một vốn bốn lời”. Con tôm có thất thì cũng còn con sò gỡ lại”.

Ông Nguyễn Văn La, cán bộ khuyến nông – khuyến ngư xã Đông Thới, cho biết toàn xã hiện có trên 2.000 ha nuôi sò huyết xen canh với các loài thủy sản khác, không ít hộ chuyên canh nuôi sò mật độ cao (khoảng 50 con/m2), tập trung nhiều ở 2 ấp Kinh Lớn và Khánh Tư. Theo Phòng NN-PTNT H.Cái Nước, đến nay, sò huyết nuôi xen canh với tôm, cua trong vuông đã trở nên phổ biến ở xã Đông Thới và Trần Thới với tổng diện tích trên 6.600 ha. tag: ong aero-tube

Hỗ trợ nông dân

Thời gian qua, ngành chức năng H.Cái Nước tổ chức nhiều lớp tập huấn giúp bà con nắm được kỹ thuật nuôi, giảm rủi ro, tăng hiệu quả. Cuối năm 2012 và đầu năm 2013, chính quyền xã Đông Thới cũng thành lập được 2 tổ hợp tác nuôi sò huyết thương phẩm ở ấp Khánh Tư lấy tên là Như Ý và tổ hợp tác nuôi sò huyết ở ấp Kinh Lớn, lấy tên là Nhà Thính B với trên 30 tổ viên tham gia nuôi sò mật độ cao, diện tích hơn 25 ha.

Theo ông Danh Văn Đô, Tổ trưởng Tổ hợp tác Như Ý, dù chưa chiết tính được cụ thể năng suất nhưng theo nhẩm tính kiểu nhà nông của ông, bình quân thả 1 kg sò giống sau khi nuôi từ 6 – 12 tháng sẽ thu hoạch được từ 8 – 10 kg sò huyết thương phẩm. “Nếu nuôi mật độ vừa phải thì 1 ha thả được khoảng 200 kg sò giống (loại sò tiêu từ 1.000 – 2.000 con/kg). Sau 12 tháng sẽ thu hoạch, giá bán từ 60.000 – 100.000/kg, mỗi ha nuôi sò sau khi trừ chi phí (khoảng 50.000 đồng/kg sò giống), người nuôi sò còn lời không dưới 100 triệu đồng. Đó là chưa tính nguồn thu từ con tôm, con cua, con cá”, ông Đô tiết lộ.

Theo Phòng NN-PTNT H.Cái Nước, hiện người nuôi sò huyết tại địa phương phụ thuộc vào nguồn giống thu gom từ các hộ khai thác tự nhiên trên dòng kinh xáng Đông Hưng nên rất hạn chế vì phụ thuộc thời vụ. Tuy nhiên, nuôi sò huyết xen canh là một trong những mô hình nuôi hiệu quả vì vốn đầu tư ít, không tốn tiền mua thức ăn cho sò và không tốn công chăm sóc. Ông Nguyễn Thanh Giảng, Trưởng phòng NN-PTNT H.Cái Nước, khuyến cáo: “Để nuôi sò đạt hiệu quả như mong muốn, bà con nên thả sò giống vào những tháng có độ mặn cao, phù hợp nhất là thời điểm sau Tết Nguyên đán và nên thường xuyên tháo nước ra vào trong vuông tôm để có thêm phù sa, vì sò là loài ăn lọc”. tag: máy sục khí nuôi tôm

Những lưu ý khi nuôi tôm trái vụ

Cuối năm 2013 và những tháng đầu năm 2014 tình hình giá cả tôm thương phẩm trên thị trường tăng cao do nhu cầu tiêu thụ của người dân trong dịp tết nguyên đán tăng cao và các doanh nghiệp muốn mua thu tôm nguyên liệu dự trữ để ra tết có nguyên liệu cho nhà máy hoạt động. tag: ong nano-tube

Theo công văn số 3426/SNN-TS ngày 11/12/2013 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc hướng dẫn khung lịch thời vụ nuôi trồng thủy sản năm 2014 trên địa bàn tỉnh thì khuyến cáo bà con nông dân nuôi trồng thủy sản một năm chỉ nên nuôi 2 vụ tôm, thời gian còn lại là để cải tạo ao nuôi và lấy nước vào ao lắng để phục vụ cho các vụ tiếp theo. Vụ 1 thường thả giống đầu tháng 3 đến tháng 7, vụ 2 thả từ đầu tháng 8 thời gian gần tết và ra ngoài tết không nên thả để và cải tạo ao để chuẩn bị lấy nước vào ao nuôi vụ mới.

Tuy nhiên người dân thường hay thả vụ phụ (thả giống sau noel 25/12) để kiếm thêm thu nhập và giá tôm vụ phụ thường cao hơn 2 vụ chính. Việc thả nuôi vụ phụ gặp rất nhiều rủi do nên bà con nông dân cần lưu ý một số vấn đề sau:

Những tháng cuối năm 2013, các chứa nước thường xã nước để bà con nông dân lấy nước làm nông nghiệp vụ thu đông nên việc lấy nguồn nước mặn gặp rất nhiều khó khăn. Nếu xác định nuôi thì phải lấy nguồn nước mặn thời gian trước đó vào ao lắng để dự trữ trước. tag: ong aero-tube

Thời điểm cuối năm chênh lệch nhiệt độ trong ngày thường cao nên dễ phát sinh dịch bệnh. Đặc biệt là thời điểm cuối tháng 12, nhiệt độ thường khá thấp (có thể dưới 200C) nếu không có biện pháp chăm sóc và phòng bệnh tốt cho tôm sẽ rất dễ dẫn đến thất bát vụ nuôi.

Vì không có nguồn nước mặn để thay nước trong ao liên tục, nên bà con nông dân cần phải tăng cường sục khí cho ao nuôi, khi cho ăn phải bổ xung các vitamin C để cho tôm ăn.

 
Trước khi nuôi thì bà con bên xử lý đáy ao thật kỹ, xừ lỷ nguồn nước qua hệ thống lắng, lọc trước khi đưa vào ao nuôi. Bà con nên xác định mật độ thả trong vụ phụ này phải thưa khoảng 40 – 60 con/m2 là thích hợp. Nếu nuôi mật độ dày quá thì càng sang các tháng tiếp theo do nguồn nước không được thay liên tục nên nhu cầu oxy không đáp ứng đu nên thường hay xảy ra tình trạng nhiều ao tôm rớt đáy liên tục.

Cần kiểm soát các chỉ số của môi trường nước đặc biệt là lượng oxy hòa tan, độ mặn, độ Ph và theo dõi, chăm sóc tôm nuôi kĩ hơn so với thời điểm nuôi thông thường trong năm.

Trong điều kiện hạn chế về tài chính, biện pháp giảm bớt độ lạnh vào thời điểm cuối tháng 12 cho ao nuôi là ngoài lưới che phủ chống chim cò, có thể phủ thêm một lớp lưới phủ nông nghiệp. tag: máy sục khí nuôi tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhung-luu-y-khi-nuoi-tom-trai-vu-5c247e16425cc51249bb6215.html

Mô hình thích hợp để ương ấu trùng tôm sú

Nghiên cứu này của Lê Quốc Việt và Trần Ngọc Hải 2018 nhằm xác định mô hình ương thích hợp cho sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú. tag: ong nano-tube

Tôm sú bố mẹ. Ảnh minh họa: Internet

Nhằm hướng đến sự phát triển bền vững và đánh giá năng suất để tìm ra mô hình sản xuất giống đạt hiệu quả cao và chất lượng tôm giống được cải thiện, nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm xác định mô hình ương ấu trùng tôm sú thích hợp cho tăng trưởng, tỷ lệ sống và nâng cao chất lượng tôm giống.

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.

Các nghiệm thức thí nghiệm bao gồm:

(1) Ương ấu trùng theo mô hình tuần hoàn (MHTH)

(2) Ương ấu trùng theo mô hình thay nước (MHTN)

(3) Ương ấu trùng theo mô hình sử dụng chế phẩm yucca (CPY)

(4) Ương ấu trùng theo mô hình ứng dụng công nghệ biofloc (CNB).

Thí nghiệm được bố trí trong nhà kính có mái tole sáng và tole tối xen kẽ. Bể được sử dụng trong thí nghiệm là bể composite 0,5 m3; nước ương có độ mặn 30‰, độ kiềm 120 mg CaCO3/L và mật độ 150 con/L. Khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn Mysis-1, thì bắt đầu vận hành hệ thống tuần hoàn và các nghiệm thức còn lại bắt đầu thay nước, đối với nghiệm thức biofloc thì bổ sung carbohydrate từ rỉ đường với tỷ lệ C:N = 30:1 và sử dụng Vimeyucca đối với nghiệm thức sử dụng CPY với lượng 10 mL/m3/3 ngày. Đối với nghiệm thức tuần hoàn, hệ thống tuần hoàn được sử dụng vật liệu lọc là các hạt giá thể nhựa, được rửa sạch và cho vào bể lọc. Bể lọc có thể tích 0,4 m3 (chứa 0,25 m3 giá thể lọc) và được kết nối với hệ thống ương gồm 3 bể (0,5 m3/bể).

Cho ấu trùng ăn: 

• Thức ăn cho ấu trùng tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của ấu trùng, khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn Zoea-1 khoảng 90% thì tiến hành cho ăn tảo Chaetoceros sp với mật độ 70.000-100.000 tế bào/mL (cho ăn 8 lần/ngày: 6, 9, 12, 15, 18, 21, 24 và 3h).

• Trong lần cho ăn đầu tiên (giai đoạn Zoea-1) tiến hành bổ sung men tiêu hóa Antibio-pro cho ấu trùng sau khi cho ăn tảo tươi lần đầu tiên với lượng 1g/m3/lần.

• Giai đoạn Zoea-2 cho ăn thức ăn tổng hợp (50% Lansy ZM + 50% Frippak-1), với lượng từ 1-2 g/m3/ngày. Giai đoạn Mysis cho ăn thức ăn tổng hợp (50% Lansy ZM + 50% Frippak-2) và Artemia bung dù (lượng thức ăn tổng hợp từ 3-4 g/m3/ngày và Artemia bung dù là 2 g/m3/lần).

• Giai đoạn PL thì cho ăn thức ăn tổng hợp (Frippak-150) với lượng 5-6 g/m3/ngày và Artemia mới nở với lượng 2 g/m3/lần. tag: ong aero-tube

Trong tất cả các nghiệm thức, ấu trùng được cho ăn với lượng thức ăn và số lần cho ăn giống nhau (8 lần/ngày). Khi ấu trùng chuyển sang Mysis, cho ăn 4 lần/ngày đối với thức ăn tổng hợp (6, 12, 18 và 24h) và 4 lần/ngày đối với Artemia (3, 9, 15 và 21h). Đối với nghiệm thức ương tuần hoàn, tắt hệ thống tuần hoàn trước và sau khi cho ăn 30 phút thì cho hệ thống tuần hoàn hoạt động trở lại. Định kỳ 3 ngày/lần, thay nước 30% lượng nước trong bể ương (nghiệm thức thay nước), sử dụng Vime-Yucca với liều 10 mL/m3  (nghiệm thức CPY), bón rỉ đường (nghiệm thức biofloc) và đối với nghiệm thức tuần hoàn thì không thay nước trong suốt quá trình ương.

Cách tạo biofloc:

Bổ sung nguồn carbohydrate từ mật rỉ đường và được bổ sung trực tiếp vào bể ương từ giai đoạn Mysis 1. Phương thức bổ sung mật rỉ đường dựa theo hàm lượng protein trong thức ăn tổng hợp, rỉ đường được bổ sung 3 ngày/lần, lượng carbohydrate trong mật rỉ đường là 46,7%. Cách tính hàm lượng carbon cần bổ sung để đạt được tỷ lệ C:N = 30:1 như sau:

CTA = 50% x lượng thức ăn bổ sung vào 

NTA = % Protein x 16% x lượng thức ăn bổ sung vào

CBS = 30 x NTA- CTA 

Trong rỉ đường có 46,7% lượng carbon

Lượng rỉ đường cần bón = CBS x 100/46,7 

Trong đó:

CTA : là lượng carbon có trong thức ăn

CBS : là lượng carbon cần bổ sung vào hệ thống

NTA : là lượng nitrogen có trong thức ăn

50% : là lượng carbon có trong thức ăn chiếm 50%

0,16 : là lượng nitrogen chiếm 16% trong protein

30 : là tỉ lệ C:N cần cung cấp

Kết quả:

Trong suốt quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, độ kiềm, TAN, nitrite và mật độ vi khuẩn ở các nghiệm thức đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng và tôm post. Ương ấu trùng tôm sú trong các hệ thống như: tuần hoàn, CPY, thay nước và biofloc, chất lượng của tôm PL thu được đều đạt kết quả tốt như nhau. Tuy nhiên ương ấu trùng tôm sú trong hệ thống tuần hoàn và mô hình sử dụng chế phẩm yucca CPY thì tôm tăng trưởng nhanh (PL10: 9,58 – 9,60 mm), đạt tỷ lệ sống (43,9 – 51,8%) và năng suất cao (77.089 – 86.746 PL10/m3).

Từ nghiên cứu trên cung cấp cho người nuôi những hệ thống ương ấu trùng tôm sú hiệu quả có thể áp dụng vào thực tiễn. tag: máy sục khí nuôi tôm

Trích dẫn: Trần Ngọc Hải và Lê Quốc Việt, 2018. Thực nghiệm ương ấu trùng tôm sú (Penaeus monodon) với các mô hình khác nhau.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/mo-hinh-thich-hop-de-uong-au-trung-tom-su-5df9995c425cc5e5233aa645.html

Bổ sung mật rỉ đường trong ương nuôi ấu trùng tôm sú

Nghiên cứu nhằm tìm ra thời điểm bổ sung carbohydrate từ rỉ đường thích hợp nhất lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú. tag: ong nano-tube

Mật rỉ đường – Ảnh: Oh My Veggies

Để làm cơ sở cho xây dựng qui trình sản xuất giống tôm sú theo công nghệ biofloc, việc xác định thời điểm bổ sung nguồn carbohydrate là rất cần thiết. Chính vì thế nghiên cứu : “Ương ấu trùng tôm sú bằng công nghệ biofloc từ nguồn carbohydrate rỉ đường theo giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng tôm” được thực hiện nhằm đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của hậu ấu trùng tôm sú.

Bổ sung mật rỉ đường trong ương nuôi ấu trùng tôm sú

Biofloc được tạo bằng nguồn carbohydrate từ rỉ đường có hàm lượng C là 46,7%. Rỉ đường được hòa vào nước theo tỷ lệ 1 rỉ đường, 3 nước rồi ủ 48 giờ sau đó bổ sung trực tiếp vào bể ương. Lượng rỉ đường được bổ sung 3 ngày một lần được tính theo tỷ lệ C/N trong thức ăn để bổ sung, tùy vào lượng thức ăn sử dụng cho tôm ăn mà thêm lượng rỉ đường để đạt được tỷ lệ C/N = 25. Lượng rỉ đường cần bổ sung vào bể để tạo biofloc được tính dựa theo công thức có cải tiến của Lục Minh Diệp (2012). tag: ong aero-tube

∆N = WTA x %PrTA X 0,08

∆C = 25 X ∆N 

∆CH= ∆C : 50%

Trong đó, ∆N: Lượng nitơ có trong thức ăn; ∆C: Carbon cần bổ sung; ∆CH: Lượng carbohydrate cần bổ sung; WTA Lượng thức ăn cho ăn hàng ngày; %PrTA: Protein trong thức; 0,08: Là (lượng Nito có trong thức ăn (16%), (%N) thải ra (50%); 25: Tỷ lệ C:N cần cung cấp là 25:1; 50%: Tỷ lệ carbon trong carbohydrate bổ sung.

Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, cách bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Bể ương có thể tích 500 L, độ mặn 30‰. Mật độ ương ấu trùng 150 con/L.

+ Nghiệm thức 1: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Mysis-1

+ Nghiệm thức 2: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Mysis-3

+ Nghiệm thức 3: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Postlarve-2

+ Nghiệm thức 4: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Postlarve-4

Chăm sóc ấu trùng và hậu ấu trùng

Khi ấu trùng Nauplius chuyển sang ấu trùng Zoea-1 thì cho ăn tảo tươi Chaetoceros sp với mật độ 60.000–120.000 tế bào/ml kết hợp thức ăn nhân tạo (50% Lansy ZL + 50% Frippak-1) với lượng 1– 2 g/m3/ngày.

Giai đoạn ấu trùng Mysis cho tôm ăn thức ăn nhân tạo (50% Lansy ZL + 50% Frippak-2) với lượng thức ăn là 3-4 g/m3/ngày và Artemia bung dù 2 g/m3/lần.

Đến giai đoạn tôm PL-1-PL-6 cho tôm ăn thức ăn Frippak-150, từ PL-7-PL-15 cho ăn Lansy PL từ 2-6 g/m3/lần, Artemia mới nở 4 g/m3/lần (Châu Tài Tảo, 2013).

Trong suốt quá trình ương, không thay nước, chỉ cấp thêm nước hao hụt do siphon.

Các chỉ tiêu như các thông số môi trường nước, chiều dài tổng của các giai đoạn, tỉ lệ sống, năng suất, chất lượng ấu trùng tôm PL15 được kiểm tra.

Kết quả và đề xuất

Các yếu tố môi trường, mật độ vi khuẩn và chỉ tiêu biofloc của các nghiệm thức nằm trong khoảng thích hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt từ giai đoạn Mysis 3 đến PL2.

Tăng trưởng về chiều dài, tỷ lệ sống và năng suất của tôm ở giai đoạn PL-15 lớn nhất ở nghiệm thức bổ sung rỉ đường từ giai đoạn Mysis-3. Chất lượng tôm PL-15 ở tất cả các nghiệm thức trong thí nghiệm đạt chất lượng tốt và sạch bệnh đốm trắng, bệnh EMS/AHPND, bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV).

Nếu ương ấu trùng tôm sú có bổ sung rỉ đường từ giai đoạn Mysis-3 thì tôm PL-15 có tăng trưởng, tỷ lệ sống và năng suất cao nhất do đó công nghệ biofloc có thể được ứng dụng để ương giống tôm sú từ giai đoạn Mysis-3 vào trong thực tế sản xuất giống. tag: máy sục khí nuôi tôm

Tác giả nghiên cứu: Châu Tài Tảo, Lý Văn Khánh và Trần Ngọc Hải của Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ. Báo cáo được đăng trên Tạp Chí Khoa Học Trường Đại Học Cần Thơ.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bo-sung-mat-ri-duong-trong-uong-nuoi-au-trung-tom-su-5de47cac425cc59b426ae85f.html

Nhận biết và điều trị một số bệnh do ký sinh trùng trên cá.

Bài viết Misganaw K và cộng sự (2016) cung cấp cách nhận biết và một số biện pháp trị ký sinh trùng trên cá.

Theo Chandra KJ (2006), Drug Authority and Control Agency (2006), hơn 45.000 loài được biết đến trong phân ngành giáp xác ký sinh trên cá. Hầu hết có thể được nhìn thấy bằng mắt thường khi bám vào mang, thân và vây của vật chủ. Heckmann R (2003), các nhóm giáp xác ký sinh, đa số là ngoại ký sinh trùng thuộc phân lớp copepod, branchiura, và isopod. Chúng tồn tại với số lượng rất lớn và phân bố trong tất cả các thủy vực nước ngọt, lợ, mặn (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Dưới đây là một số bệnh do một số loài ký sinh trùng chủ yếu trên cá và cách phòng trị:

1/ Bệnh ký sinh trùng trên cá do giáp xác chân chèo (Ergasilidae (Copepod))

Cấu tạo của Ergasilids biến đổi như đầu biến thành móc bám, chúng ít khi chọn lựa vật chủ ký sinh và thậm chí còn là loài gây bệnh cơ hội (Johnson SC và các cộng sự, 2004).

Dấu hiệu bệnh lý: Ergasilids bám trên mang và tiết ra chất nhờn, gây lỡ loét. Sau đó lan ra ngoài lớp biểu mô, dẫn đến các mạch máu bị tắc nghẽn, do nhiễm trùng kéo dài, có thể kéo dài trên các vùng rộng, giảm chức năng hô hấp của mang (Abowei JFN, Ezekiel EN, 2011). Mang bị tổn thương, làm cá ngạt thở, bỏ ăn hoặc ăn yếu và dẫn đến chết cá (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Chẩn đoán: Phát hiện Ergasilids bám vào mang cá, bề mặt cơ thể, khoang mũi và quan sát các dấu hiệu bệnh lý (Marquardt WC và cộng sự, 2000).

Điều trị và xử lý: Xử lý bằng cách kết hợp CuSO4 0,5 ppm và FeSO4 2 ppm trong 6-9 ngày. Nước muối 3%, sau đó ngâm kéo dài 0,2% trong 3 tuần. Biện pháp kiểm soát tốt nhất là không đưa cá bị nhiễm vào hồ và ao nuôi (Marquardt WC, Demaree RS, Grieve B, 2000). Tag: may thoi khi

2/ Bệnh do trùng mỏ neo (Lernaeidae (copepod)) ký sinh

Theo Abowei JFN, Ezekiel EN (2011), trùng mỏ neo là ký sinh trùng phổ biến và rất nguy hiểm đối với nhiều loài cá, là loài ký sinh từ cá giống đến cá thương phẩm. Hình dạng ngoài của Lernaea, cơ thể gồm 3 phần: đầu, ngực, bụng. Phần đầu con đực giống hình dạng Cyclops sống tự do, còn con cái sau khi giao phối sống ký sinh hình dạng thay đổi rất lớn. Cơ thể kéo dài, các đốt hợp lại thành ống hơi vặn mình, phần đầu kéo dài thành sừng giống mỏ neo đâm thủng bám chắc vào tổ chức ký chủ nên còn có tên là trùng mỏ neo.

Dấu hiệu bệnh lý: Trùng dùng móc cắm sâu vào thân cá, vào các gốc vây, hốc mắt cá làm thành những vết thương sưng tấy đỏ, chảy máu, cá thường xuyên cọ xát hoặc bơi lội không bình thường. Xung quanh vết thương thường có nấm thủy mi phát triển và vi trùng trong nước có điều kiện xâm nhập làm bệnh thêm trầm trọng. Ký sinh trùng gây thiệt hại nghiêm trọng khi nhiễm nặng (Abowei JFN, Ezekiel EN, 2011).

Chẩn đoán: Có thể nhìn thấy bằng mắt thường và kiểm tra bằng kính hiển vi từ da, mang và vây cá và quan sát các dấu hiệu bệnh lý (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Điều trị và xử lý: Lernaea cực kỳ khó xử lý vì chỉ ấu trùng sống tự do mới dễ xử lý (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008). Sử dụng nước muối 1% trong 3 ngày, formalin 250 ppm trong 30 đến 60 phút (Hopla CE, Durden LA, Keirans JE, 1994). Các hóa chất khác như thuốc organophosphate và organ halogen với kali permanganat (KMnO4) (Kabat Z, 1985). Gần đây, thuốc Dimpling (R) (Philips Duper, sản phẩm Hà Lan) đã được tìm thấy có hiệu quả đối với trùng trưởng thành ở nồng độ 0,03-0,05 ppm.

3/ Bệnh do rận cá Argulidae (Branchiura) ký sinh

Rận cá ký sinh trên tất cả giai đoạn của cá gây bệnh làm chết cá hương, cá giống, không làm chết cá thịt, cá bố mẹ, nhưng làm cá bị tổn thương, cơ thể bị suy yếu, tạo điều kiện cho vi trùng và nấm thủy mi phát triển, làm cho bệnh thêm nghiêm trọng.

Dấu hiệu bệnh lý: Rận cá dùng vòi hút máu cá, tiết và tiêm một lượng lớn chất dịch tiêu hóa – đây là chất độc đối với cá, làm cho vết thương trên da bị sưng đỏ, trên thân cá nhiều vết rận đốt sưng tấy đỏ. Sự kích ứng dai dẳng gây ra dẫn đến cá bỏ ăn, và ngừng phát triển, trầy xước hoặc liên tục nhảy lên khỏi nước và bơi thất thường (Kabat Z, 1985). Có thể nhìn thấy ký sinh trùng bằng mắt thường, chiều dài từ vài milimét đến khoảng 30 mm và quan sát bằng kính hiển vi các dấu hiệu bên ngoài như xuất huyết và da loét và mang.

Điều trị và xử lý: Sử dụng các hóa chất thông thường như muối (NaCl), formaldehyde, kali permanganat (2-5 mg/l) và formalin (Carpenter JW, 2005). Cách điều trị hiệu quả nhất chống lại bệnh là sử dụng organophosphates. Organophosphates 2-3 liều trong một tuần, Emamectin benzoate cũng đã được sử dụng để tiêu diệt Argulus (Noaman V, Chelongar Y, Shahmoradi AH, 2010).

4/ Bệnh do isopod ký sinh

Isopoda là loài ký sinh giáp xác lớn nhất được tìm thấy trên cá (dài 20-50 mm). Một số ấu trùng isopod được nhìn thấy trong các khoang và miệng của cá (Heckmann R, 2003). Loại bỏ các ký sinh trùng bằng thủ công và quản lý môi trường tối ưu trong quá trình nuôi. Việc xử lý hóa học cho cá nuôi lồng là không thực tế; Trichlorfon (Dipterex) ở nồng độ 0,5-0,75 ppm trong 24 giờ (Heckmann R, 2003), tuy nhiên hiện nay chất này đã bị cấm theo Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Một số khuyến cáo: Phương pháp phòng bệnh ký sinh trùng trên cá:

1. Cải tạo ao trước khi thả nuôi: Dùng vôi sống CaO (10-15 kg/100m2) rải xuống đáy ao và phơi nắng từ 3-7 ngày để diệt trùng, CaO từ 1,5-2,0 kg/m2 khi không thể rút cạn nước trong ao nuôi. Tốt nhất nên có hệ thống lắng, lọc và xử lý nước cấp để hạn chế mầm bệnh.

2. Kiểm tra cá giống (ít nhất 30 mẫu cá) trước khi thả nuôi, nếu phát hiện đàn cá đã nhiễm thì có biện pháp xử lý hoặc loại bỏ đàn cá.

3. Xử lý nước và đáy ao trong quá trình nuôi: Dùng 1-1,5 kg muối ăn và 2 kg vôi/100m3 nước, hoặc định kỳ xử lý nước ao 15-20 ngày/lần bằng các chất khử trùng, hút bùn đáy ao 2 tháng/lần đối với cá < 300g và 1 tháng/lần đối với cá > 300g.

4. Kiểm tra cá trong quá trình nuôi: Định kỳ mỗi tháng mổ khám 30 mẫu cá/lần, đối với cá lớn thì kiểm tra từ 10-15 mẫu/lần. Nếu phát hiện có cá bị nhiễm trong ao thì cần phải cách li đàn cá, khử trùng dụng cụ nuôi.

Ngoài ra, lá xoan trị bệnh trùng mỏ neo và trùng bánh xe rất tốt. Ngâm lá xoan trong nước ao nuôi cá với liều lượng nếu lá non 300g/1m3 nước, bó thành từng bó chắt lại sau thời gian ngâm 5 – 7 ngày tùy thuộc nhiệt độ sau đó nên vớt ra để tránh ô nhiễm ao.

Bằng cách xác định được chính xác nguyên nhân và áp dụng theo một số khuyến cáo nêu trên có thể hạn chế thấp nhất thiệt hại do các bệnh ký sinh trùng giáp xác gây ra.

Citation: Misganaw K, Getu A (2016) Review on Major Parasitic Crustacean in Fish. Fish Aquac J 7:175. doi:10.4172/2150-3508.1000175

Nguồn: 2lua.vn/article/nhan-biet-va-dieu-tri-mot-so-benh-do-ky-sinh-trung-tren-ca-5de480b1425cc56b496ae85c.html

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ.

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng. Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Màu nước ao nuôi tôm nước lợ.

Độ sâu mực nước cần duy trì từ 1,2 – 1,5 m, bờ ao cao hơn mức nước cao nhất 0,5 m. Độ trong có liên quan tới mật độ tảo và giá trị phù hợp từ 30 – 45 cm. Màu nước vàng nâu (màu nước trà) đặc trưng của tảo silic hoặc màu xanh nõn chuối đặc trưng của tảo lục. Mật độ tảo phù hợp tạo thuận lợi cho tôm sinh trưởng tốt. Mật độ quá cao kết hợp độ kiềm thấp dưới 80 mg/l sẽ làm pH biến động lớn trong ngày và ôxy ban đêm < 3 mg/l. Mật độ tảo quá cao dẫn tới hiện tượng nở hoa và gây ô nhiễm môi trường. Mật độ tảo thấp cũng không thuận lợi cho tôm phát triển. Cần duy trì mật độ tảo vừa phải, tương ứng với độ trong từ 30 – 45 cm.

Nếu mật độ tảo cao, thay 20 – 30% nước ao nuôi bằng nước sạch hoặc dùng chế phẩm sinh học diệt tảo (liều lượng theo hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm), sau đó, đánh men vi sinh để phân hủy xác tảo, xi phông đáy và bổ sung nước mới sạch giúp ổn định môi trường. Nếu mật độ tảo thấp, sử dụng đạm (0,2 – 0,4 kg/1.000 m3) kết hợp lân P2O5 (0,3 – 0,6 kg/1.000 m3) hòa tan tạt đều khắp ao, những ao khó lên màu bón thêm bột zeolite hoặc dolomite liều lượng 7 – 10 kg/1.000 m3.

Độ muối tối ưu cho tôm sú từ 15 – 25 ppt, TTCT 5 – 25 ppt. Để điều chỉnh cần bổ sung nước mới, sạch có độ muối phù hợp. Ôxy hòa tan phải lớn hơn 5 mg/l, thường xuyên quan sát hoạt động của tôm. Ao nuôi thâm canh, cuối vụ phải bật quạt nước thường xuyên, đặc biệt từ 22 giờ đêm đến sáng sớm để tránh thiếu hụt ôxy.

Độ pH: khoảng 7,5 – 8,5, dao động không quá 5 đơn vị trong ngày. Nếu pH thấp dưới 7,5, dùng vôi CaCO3 từ 15 – 20 kg/1.000 m3 nước hoặc vôi Dolomite từ 5 – 7 kg/1.000 m3 nước. Nếu pH cao trên 8,5 dùng đường mật hoặc đường cát 3 – 5 kg/1.000 m3 nước. Lưu ý, khi điều chỉnh độ pH, vôi cần được hòa tan và tạt đều mặt nước, làm 1 lần/ngày và trong 2 – 3 ngày, mỗi lần tạt xong cần kiểm tra lại độ pH để có biện pháp điều chỉnh phù hợp.

Độ kiềm phù hợp từ 80 – 180 mg CaCO3/L, nếu độ kiềm thấp dùng Dolomite từ 5 – 7 kg/1.000 m3 nước hoặc vôi bột từ 20 – 30 kg cho 1.000 m3 nước. Độ kiềm cao có thể dùng đường mật hoặc đường cát với lượng 3 – 5 kg/1.000 m3 nước. Lưu ý, khi tăng hoặc giảm độ kiềm, nên làm từ từ trong 2 – 3 ngày và kiểm tra lại độ kiềm để có biện pháp điều chỉnh phù hợp.Các chất hữu cơ có trong ao nuôi tôm được đánh giá thông qua thông số COD (phù hợp < 10 mg/l) và BOD5 (phù hợp < 5 mg/l). Chỉ tiêu NH4 và PO4 là muối dinh dưỡng cần thiết cho tảo sinh trưởng. NH4 phù hợp từ 0,25 – 0,5 mg/l và PO43- từ 0,2 – 0,3 mg/l.

Các khí độc được hình thành từ sự phân hủy yếm khí (thiếu ôxy) các chất hữu cơ: thức ăn thừa, từ chất thải của tôm… Tiêu chuẩn phù hợp cho tôm nuôi NH3 và H2S <0,1 mg/l và NO2 < 0,25 mg/l. Khi giá trị các thông số nêu trên vượt ngưỡng sẽ ảnh hưởng xấu tới tôm nuôi, cần thay nước mới sạch để giảm nguy cơ ô nhiễm. Tăng cường quạt khí để bổ sung ôxy. Sử dụng một số loại chế phẩm sinh học có tác dụng phân giải các chất hữu cơ và khí độc trong ao, liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm. Tag: thiet bi tao oxy

Để đảm bảo môi trường thuận lợi cho tôm sinh trưởng tốt, cần định kỳ kiểm tra giám sát môi trường từ đó có biện pháp xử lý kịp thời. Các thông số kiểm tra hàng ngày gồm: Nhiệt độ nước, độ trong, màu nước, độ pH và ôxy hòa tan. Kiểm tra hàng tuần: độ muối, độ kiềm, COD, BOD5, NH4, PO4, NH3, NO2 và H2S.

Phó Giám đốc Trung tâm Quan trắc Môi trường và Bệnh thủy sản miền Bắc, Viện NC NTTS I

Nguồn: 2lua.vn/article/luu-y-ve-moi-truong-trong-ao-nuoi-tom-nuoc-lo-5dde1682425cc5250919fbf2.html