Bổ sung mật rỉ đường trong ương nuôi ấu trùng tôm sú

Nghiên cứu nhằm tìm ra thời điểm bổ sung carbohydrate từ rỉ đường thích hợp nhất lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú. tag: ong nano-tube

Mật rỉ đường – Ảnh: Oh My Veggies

Để làm cơ sở cho xây dựng qui trình sản xuất giống tôm sú theo công nghệ biofloc, việc xác định thời điểm bổ sung nguồn carbohydrate là rất cần thiết. Chính vì thế nghiên cứu : “Ương ấu trùng tôm sú bằng công nghệ biofloc từ nguồn carbohydrate rỉ đường theo giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng tôm” được thực hiện nhằm đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của hậu ấu trùng tôm sú.

Bổ sung mật rỉ đường trong ương nuôi ấu trùng tôm sú

Biofloc được tạo bằng nguồn carbohydrate từ rỉ đường có hàm lượng C là 46,7%. Rỉ đường được hòa vào nước theo tỷ lệ 1 rỉ đường, 3 nước rồi ủ 48 giờ sau đó bổ sung trực tiếp vào bể ương. Lượng rỉ đường được bổ sung 3 ngày một lần được tính theo tỷ lệ C/N trong thức ăn để bổ sung, tùy vào lượng thức ăn sử dụng cho tôm ăn mà thêm lượng rỉ đường để đạt được tỷ lệ C/N = 25. Lượng rỉ đường cần bổ sung vào bể để tạo biofloc được tính dựa theo công thức có cải tiến của Lục Minh Diệp (2012). tag: ong aero-tube

∆N = WTA x %PrTA X 0,08

∆C = 25 X ∆N 

∆CH= ∆C : 50%

Trong đó, ∆N: Lượng nitơ có trong thức ăn; ∆C: Carbon cần bổ sung; ∆CH: Lượng carbohydrate cần bổ sung; WTA Lượng thức ăn cho ăn hàng ngày; %PrTA: Protein trong thức; 0,08: Là (lượng Nito có trong thức ăn (16%), (%N) thải ra (50%); 25: Tỷ lệ C:N cần cung cấp là 25:1; 50%: Tỷ lệ carbon trong carbohydrate bổ sung.

Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, cách bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Bể ương có thể tích 500 L, độ mặn 30‰. Mật độ ương ấu trùng 150 con/L.

+ Nghiệm thức 1: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Mysis-1

+ Nghiệm thức 2: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Mysis-3

+ Nghiệm thức 3: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Postlarve-2

+ Nghiệm thức 4: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Postlarve-4

Chăm sóc ấu trùng và hậu ấu trùng

Khi ấu trùng Nauplius chuyển sang ấu trùng Zoea-1 thì cho ăn tảo tươi Chaetoceros sp với mật độ 60.000–120.000 tế bào/ml kết hợp thức ăn nhân tạo (50% Lansy ZL + 50% Frippak-1) với lượng 1– 2 g/m3/ngày.

Giai đoạn ấu trùng Mysis cho tôm ăn thức ăn nhân tạo (50% Lansy ZL + 50% Frippak-2) với lượng thức ăn là 3-4 g/m3/ngày và Artemia bung dù 2 g/m3/lần.

Đến giai đoạn tôm PL-1-PL-6 cho tôm ăn thức ăn Frippak-150, từ PL-7-PL-15 cho ăn Lansy PL từ 2-6 g/m3/lần, Artemia mới nở 4 g/m3/lần (Châu Tài Tảo, 2013).

Trong suốt quá trình ương, không thay nước, chỉ cấp thêm nước hao hụt do siphon.

Các chỉ tiêu như các thông số môi trường nước, chiều dài tổng của các giai đoạn, tỉ lệ sống, năng suất, chất lượng ấu trùng tôm PL15 được kiểm tra.

Kết quả và đề xuất

Các yếu tố môi trường, mật độ vi khuẩn và chỉ tiêu biofloc của các nghiệm thức nằm trong khoảng thích hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt từ giai đoạn Mysis 3 đến PL2.

Tăng trưởng về chiều dài, tỷ lệ sống và năng suất của tôm ở giai đoạn PL-15 lớn nhất ở nghiệm thức bổ sung rỉ đường từ giai đoạn Mysis-3. Chất lượng tôm PL-15 ở tất cả các nghiệm thức trong thí nghiệm đạt chất lượng tốt và sạch bệnh đốm trắng, bệnh EMS/AHPND, bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV).

Nếu ương ấu trùng tôm sú có bổ sung rỉ đường từ giai đoạn Mysis-3 thì tôm PL-15 có tăng trưởng, tỷ lệ sống và năng suất cao nhất do đó công nghệ biofloc có thể được ứng dụng để ương giống tôm sú từ giai đoạn Mysis-3 vào trong thực tế sản xuất giống. tag: máy sục khí nuôi tôm

Tác giả nghiên cứu: Châu Tài Tảo, Lý Văn Khánh và Trần Ngọc Hải của Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ. Báo cáo được đăng trên Tạp Chí Khoa Học Trường Đại Học Cần Thơ.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bo-sung-mat-ri-duong-trong-uong-nuoi-au-trung-tom-su-5de47cac425cc59b426ae85f.html

Nhận biết và điều trị một số bệnh do ký sinh trùng trên cá.

Bài viết Misganaw K và cộng sự (2016) cung cấp cách nhận biết và một số biện pháp trị ký sinh trùng trên cá.

Theo Chandra KJ (2006), Drug Authority and Control Agency (2006), hơn 45.000 loài được biết đến trong phân ngành giáp xác ký sinh trên cá. Hầu hết có thể được nhìn thấy bằng mắt thường khi bám vào mang, thân và vây của vật chủ. Heckmann R (2003), các nhóm giáp xác ký sinh, đa số là ngoại ký sinh trùng thuộc phân lớp copepod, branchiura, và isopod. Chúng tồn tại với số lượng rất lớn và phân bố trong tất cả các thủy vực nước ngọt, lợ, mặn (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Dưới đây là một số bệnh do một số loài ký sinh trùng chủ yếu trên cá và cách phòng trị:

1/ Bệnh ký sinh trùng trên cá do giáp xác chân chèo (Ergasilidae (Copepod))

Cấu tạo của Ergasilids biến đổi như đầu biến thành móc bám, chúng ít khi chọn lựa vật chủ ký sinh và thậm chí còn là loài gây bệnh cơ hội (Johnson SC và các cộng sự, 2004).

Dấu hiệu bệnh lý: Ergasilids bám trên mang và tiết ra chất nhờn, gây lỡ loét. Sau đó lan ra ngoài lớp biểu mô, dẫn đến các mạch máu bị tắc nghẽn, do nhiễm trùng kéo dài, có thể kéo dài trên các vùng rộng, giảm chức năng hô hấp của mang (Abowei JFN, Ezekiel EN, 2011). Mang bị tổn thương, làm cá ngạt thở, bỏ ăn hoặc ăn yếu và dẫn đến chết cá (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Chẩn đoán: Phát hiện Ergasilids bám vào mang cá, bề mặt cơ thể, khoang mũi và quan sát các dấu hiệu bệnh lý (Marquardt WC và cộng sự, 2000).

Điều trị và xử lý: Xử lý bằng cách kết hợp CuSO4 0,5 ppm và FeSO4 2 ppm trong 6-9 ngày. Nước muối 3%, sau đó ngâm kéo dài 0,2% trong 3 tuần. Biện pháp kiểm soát tốt nhất là không đưa cá bị nhiễm vào hồ và ao nuôi (Marquardt WC, Demaree RS, Grieve B, 2000). Tag: may thoi khi

2/ Bệnh do trùng mỏ neo (Lernaeidae (copepod)) ký sinh

Theo Abowei JFN, Ezekiel EN (2011), trùng mỏ neo là ký sinh trùng phổ biến và rất nguy hiểm đối với nhiều loài cá, là loài ký sinh từ cá giống đến cá thương phẩm. Hình dạng ngoài của Lernaea, cơ thể gồm 3 phần: đầu, ngực, bụng. Phần đầu con đực giống hình dạng Cyclops sống tự do, còn con cái sau khi giao phối sống ký sinh hình dạng thay đổi rất lớn. Cơ thể kéo dài, các đốt hợp lại thành ống hơi vặn mình, phần đầu kéo dài thành sừng giống mỏ neo đâm thủng bám chắc vào tổ chức ký chủ nên còn có tên là trùng mỏ neo.

Dấu hiệu bệnh lý: Trùng dùng móc cắm sâu vào thân cá, vào các gốc vây, hốc mắt cá làm thành những vết thương sưng tấy đỏ, chảy máu, cá thường xuyên cọ xát hoặc bơi lội không bình thường. Xung quanh vết thương thường có nấm thủy mi phát triển và vi trùng trong nước có điều kiện xâm nhập làm bệnh thêm trầm trọng. Ký sinh trùng gây thiệt hại nghiêm trọng khi nhiễm nặng (Abowei JFN, Ezekiel EN, 2011).

Chẩn đoán: Có thể nhìn thấy bằng mắt thường và kiểm tra bằng kính hiển vi từ da, mang và vây cá và quan sát các dấu hiệu bệnh lý (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Điều trị và xử lý: Lernaea cực kỳ khó xử lý vì chỉ ấu trùng sống tự do mới dễ xử lý (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008). Sử dụng nước muối 1% trong 3 ngày, formalin 250 ppm trong 30 đến 60 phút (Hopla CE, Durden LA, Keirans JE, 1994). Các hóa chất khác như thuốc organophosphate và organ halogen với kali permanganat (KMnO4) (Kabat Z, 1985). Gần đây, thuốc Dimpling (R) (Philips Duper, sản phẩm Hà Lan) đã được tìm thấy có hiệu quả đối với trùng trưởng thành ở nồng độ 0,03-0,05 ppm.

3/ Bệnh do rận cá Argulidae (Branchiura) ký sinh

Rận cá ký sinh trên tất cả giai đoạn của cá gây bệnh làm chết cá hương, cá giống, không làm chết cá thịt, cá bố mẹ, nhưng làm cá bị tổn thương, cơ thể bị suy yếu, tạo điều kiện cho vi trùng và nấm thủy mi phát triển, làm cho bệnh thêm nghiêm trọng.

Dấu hiệu bệnh lý: Rận cá dùng vòi hút máu cá, tiết và tiêm một lượng lớn chất dịch tiêu hóa – đây là chất độc đối với cá, làm cho vết thương trên da bị sưng đỏ, trên thân cá nhiều vết rận đốt sưng tấy đỏ. Sự kích ứng dai dẳng gây ra dẫn đến cá bỏ ăn, và ngừng phát triển, trầy xước hoặc liên tục nhảy lên khỏi nước và bơi thất thường (Kabat Z, 1985). Có thể nhìn thấy ký sinh trùng bằng mắt thường, chiều dài từ vài milimét đến khoảng 30 mm và quan sát bằng kính hiển vi các dấu hiệu bên ngoài như xuất huyết và da loét và mang.

Điều trị và xử lý: Sử dụng các hóa chất thông thường như muối (NaCl), formaldehyde, kali permanganat (2-5 mg/l) và formalin (Carpenter JW, 2005). Cách điều trị hiệu quả nhất chống lại bệnh là sử dụng organophosphates. Organophosphates 2-3 liều trong một tuần, Emamectin benzoate cũng đã được sử dụng để tiêu diệt Argulus (Noaman V, Chelongar Y, Shahmoradi AH, 2010).

4/ Bệnh do isopod ký sinh

Isopoda là loài ký sinh giáp xác lớn nhất được tìm thấy trên cá (dài 20-50 mm). Một số ấu trùng isopod được nhìn thấy trong các khoang và miệng của cá (Heckmann R, 2003). Loại bỏ các ký sinh trùng bằng thủ công và quản lý môi trường tối ưu trong quá trình nuôi. Việc xử lý hóa học cho cá nuôi lồng là không thực tế; Trichlorfon (Dipterex) ở nồng độ 0,5-0,75 ppm trong 24 giờ (Heckmann R, 2003), tuy nhiên hiện nay chất này đã bị cấm theo Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Một số khuyến cáo: Phương pháp phòng bệnh ký sinh trùng trên cá:

1. Cải tạo ao trước khi thả nuôi: Dùng vôi sống CaO (10-15 kg/100m2) rải xuống đáy ao và phơi nắng từ 3-7 ngày để diệt trùng, CaO từ 1,5-2,0 kg/m2 khi không thể rút cạn nước trong ao nuôi. Tốt nhất nên có hệ thống lắng, lọc và xử lý nước cấp để hạn chế mầm bệnh.

2. Kiểm tra cá giống (ít nhất 30 mẫu cá) trước khi thả nuôi, nếu phát hiện đàn cá đã nhiễm thì có biện pháp xử lý hoặc loại bỏ đàn cá.

3. Xử lý nước và đáy ao trong quá trình nuôi: Dùng 1-1,5 kg muối ăn và 2 kg vôi/100m3 nước, hoặc định kỳ xử lý nước ao 15-20 ngày/lần bằng các chất khử trùng, hút bùn đáy ao 2 tháng/lần đối với cá < 300g và 1 tháng/lần đối với cá > 300g.

4. Kiểm tra cá trong quá trình nuôi: Định kỳ mỗi tháng mổ khám 30 mẫu cá/lần, đối với cá lớn thì kiểm tra từ 10-15 mẫu/lần. Nếu phát hiện có cá bị nhiễm trong ao thì cần phải cách li đàn cá, khử trùng dụng cụ nuôi.

Ngoài ra, lá xoan trị bệnh trùng mỏ neo và trùng bánh xe rất tốt. Ngâm lá xoan trong nước ao nuôi cá với liều lượng nếu lá non 300g/1m3 nước, bó thành từng bó chắt lại sau thời gian ngâm 5 – 7 ngày tùy thuộc nhiệt độ sau đó nên vớt ra để tránh ô nhiễm ao.

Bằng cách xác định được chính xác nguyên nhân và áp dụng theo một số khuyến cáo nêu trên có thể hạn chế thấp nhất thiệt hại do các bệnh ký sinh trùng giáp xác gây ra.

Citation: Misganaw K, Getu A (2016) Review on Major Parasitic Crustacean in Fish. Fish Aquac J 7:175. doi:10.4172/2150-3508.1000175

Nguồn: 2lua.vn/article/nhan-biet-va-dieu-tri-mot-so-benh-do-ky-sinh-trung-tren-ca-5de480b1425cc56b496ae85c.html

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ.

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng. Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Màu nước ao nuôi tôm nước lợ.

Độ sâu mực nước cần duy trì từ 1,2 – 1,5 m, bờ ao cao hơn mức nước cao nhất 0,5 m. Độ trong có liên quan tới mật độ tảo và giá trị phù hợp từ 30 – 45 cm. Màu nước vàng nâu (màu nước trà) đặc trưng của tảo silic hoặc màu xanh nõn chuối đặc trưng của tảo lục. Mật độ tảo phù hợp tạo thuận lợi cho tôm sinh trưởng tốt. Mật độ quá cao kết hợp độ kiềm thấp dưới 80 mg/l sẽ làm pH biến động lớn trong ngày và ôxy ban đêm < 3 mg/l. Mật độ tảo quá cao dẫn tới hiện tượng nở hoa và gây ô nhiễm môi trường. Mật độ tảo thấp cũng không thuận lợi cho tôm phát triển. Cần duy trì mật độ tảo vừa phải, tương ứng với độ trong từ 30 – 45 cm.

Nếu mật độ tảo cao, thay 20 – 30% nước ao nuôi bằng nước sạch hoặc dùng chế phẩm sinh học diệt tảo (liều lượng theo hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm), sau đó, đánh men vi sinh để phân hủy xác tảo, xi phông đáy và bổ sung nước mới sạch giúp ổn định môi trường. Nếu mật độ tảo thấp, sử dụng đạm (0,2 – 0,4 kg/1.000 m3) kết hợp lân P2O5 (0,3 – 0,6 kg/1.000 m3) hòa tan tạt đều khắp ao, những ao khó lên màu bón thêm bột zeolite hoặc dolomite liều lượng 7 – 10 kg/1.000 m3.

Độ muối tối ưu cho tôm sú từ 15 – 25 ppt, TTCT 5 – 25 ppt. Để điều chỉnh cần bổ sung nước mới, sạch có độ muối phù hợp. Ôxy hòa tan phải lớn hơn 5 mg/l, thường xuyên quan sát hoạt động của tôm. Ao nuôi thâm canh, cuối vụ phải bật quạt nước thường xuyên, đặc biệt từ 22 giờ đêm đến sáng sớm để tránh thiếu hụt ôxy.

Độ pH: khoảng 7,5 – 8,5, dao động không quá 5 đơn vị trong ngày. Nếu pH thấp dưới 7,5, dùng vôi CaCO3 từ 15 – 20 kg/1.000 m3 nước hoặc vôi Dolomite từ 5 – 7 kg/1.000 m3 nước. Nếu pH cao trên 8,5 dùng đường mật hoặc đường cát 3 – 5 kg/1.000 m3 nước. Lưu ý, khi điều chỉnh độ pH, vôi cần được hòa tan và tạt đều mặt nước, làm 1 lần/ngày và trong 2 – 3 ngày, mỗi lần tạt xong cần kiểm tra lại độ pH để có biện pháp điều chỉnh phù hợp.

Độ kiềm phù hợp từ 80 – 180 mg CaCO3/L, nếu độ kiềm thấp dùng Dolomite từ 5 – 7 kg/1.000 m3 nước hoặc vôi bột từ 20 – 30 kg cho 1.000 m3 nước. Độ kiềm cao có thể dùng đường mật hoặc đường cát với lượng 3 – 5 kg/1.000 m3 nước. Lưu ý, khi tăng hoặc giảm độ kiềm, nên làm từ từ trong 2 – 3 ngày và kiểm tra lại độ kiềm để có biện pháp điều chỉnh phù hợp.Các chất hữu cơ có trong ao nuôi tôm được đánh giá thông qua thông số COD (phù hợp < 10 mg/l) và BOD5 (phù hợp < 5 mg/l). Chỉ tiêu NH4 và PO4 là muối dinh dưỡng cần thiết cho tảo sinh trưởng. NH4 phù hợp từ 0,25 – 0,5 mg/l và PO43- từ 0,2 – 0,3 mg/l.

Các khí độc được hình thành từ sự phân hủy yếm khí (thiếu ôxy) các chất hữu cơ: thức ăn thừa, từ chất thải của tôm… Tiêu chuẩn phù hợp cho tôm nuôi NH3 và H2S <0,1 mg/l và NO2 < 0,25 mg/l. Khi giá trị các thông số nêu trên vượt ngưỡng sẽ ảnh hưởng xấu tới tôm nuôi, cần thay nước mới sạch để giảm nguy cơ ô nhiễm. Tăng cường quạt khí để bổ sung ôxy. Sử dụng một số loại chế phẩm sinh học có tác dụng phân giải các chất hữu cơ và khí độc trong ao, liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm. Tag: thiet bi tao oxy

Để đảm bảo môi trường thuận lợi cho tôm sinh trưởng tốt, cần định kỳ kiểm tra giám sát môi trường từ đó có biện pháp xử lý kịp thời. Các thông số kiểm tra hàng ngày gồm: Nhiệt độ nước, độ trong, màu nước, độ pH và ôxy hòa tan. Kiểm tra hàng tuần: độ muối, độ kiềm, COD, BOD5, NH4, PO4, NH3, NO2 và H2S.

Phó Giám đốc Trung tâm Quan trắc Môi trường và Bệnh thủy sản miền Bắc, Viện NC NTTS I

Nguồn: 2lua.vn/article/luu-y-ve-moi-truong-trong-ao-nuoi-tom-nuoc-lo-5dde1682425cc5250919fbf2.html

Nuôi tôm hai giai đoạn kết hợp công nghệ biofloc và UV

Tăng năng suất và lợi nhuận, tiết kiệm được điện, đặc biệt phù hợp với các ao nuôi có diện tích nhỏ.

Biofloc có ưu điểm tái tạo thức ăn thừa làm thức ăn cho tôm nuôi, ít thay nước và hạn chế lây lan mầm bệnh vào hệ thống nuôi, công nghệ biofloc đang được ứng dụng nhiều trong các hệ thống nuôi tôm. Do đó công nghệ Biofloc đã cho thấy hiệu quả của nó rất cao trong giai đoạn gièo tôm. Tuy nhiên, trong giai đoạn nuôi thương phẩm việc vận hành quy trình biofloc gặp rất nhiều khó khăn như việc duy trì mật độ floc, floc tàn do môi trường thay đổi, cần cung cấp nhiều oxy hơn cho hệ thống nuôi. Do đó, điện cũng là vấn đề lớn trong việc vận hành công nghệ này.

Với mục tiêu giảm thiểu rủi ro, cải thiện quy trình nuôi thân thiện với môi trường và tăng thêm thu nhập cho người nuôi. Mô hình được triển khai trên các xã viên của hợp tác xã nuôi tôm công nghệ cao Tân Hưng và được được thực hiện trên diện tích ao nhỏ (dưới 600 m2) và quy mô ao trung bình (600 – 1000 m2) và quy mô ao lớn.

Các thông số môi trường được theo dõi định kỳ 2 lần/ngày như pH, nhiệt độ, DO; 3 ngày/lần đối với TAN, NO2; mật độ tảo , vi khuẩn tổng và vi khuẩn vibrio sp được xác định mỗi tuần/lần.

Quy trình nuôi

1. Ao nuôi

Là ao lót bạt, gồm một ao dèo 200 mét vuông và ao nuôi tôm thịt có diện tích từ 500 đến 1.500 mét vuông, trang bị một máy UV, có hệ thống oxy, hố xi phong và các điều kiện cơ bản khác phục vụ cho nuôi tôm công nghệ cao. Tag: may thoi khi

2. Chăm sóc và quản lý tôm nuôi.

Tiến hành thả tôm vèo giai đoạn 1 từ 21 đến 25 ngày nuôi theo công nghệ Biofloc. Trong giai đoạn 20 ngày tiến hành cấp nước từ ao lắng vào ao nuôi thông qua hệ thống lắng lọc và qua máy UV.

Giai đoạn 1: Nuôi theo quy trình biofloc

Sau khi lắp đặt hệ thống thổi khí cho các bể, sục khí liên tục 24/24h, nước được bơm vào ao ương với mức nước 1m. Tiến hành bón vôi Dolomite, đường mật và thức ăn (bột đậu tương hoặc cám ủ) để tạo tỷ lệ Carbon (C) và Nitơ (N) thích hợp. Giai đoạn 3 ngày đầu trước khi thả giống cần bổ sung 10g/m3 mật rỉ đường, 5 g/m3 thức ăn số 0 và 20 g/m3 vôi Dolomite. Sau khi quan sát thấy xuất hiện Biofloc trong nước thì có thể tiến hành thả giống vào ương. Sau khi thả giống hàng ngày bổ sung bột mì được ủ với vi sinh trong 12h, liều lượng bột mì bằng 70% lượng thức ăn cho tôm trong một ngày hoặc sử dụng mật đường 10g/m3 ủ với men vi sinh trong 24h và bón xuống ao. Trong suốt quá trình nuôi tôm được cho ăn 5 lần/ngày, đáy ao được xiphon sau 10 ngày thả giống.

Giai đoạn 2: Nuôi theo quy trình chảy tràn ứng dụng công nghệ UV

Chuyển tôm nuôi từ ao vèo sang ao nuôi (có thể bằng cách kéo hoặc xả ống), giai đoạn này chuyển sang công nghệ UV.

Sau khi tôm gièo được 21 – 25 ngày (1000 – 1200 con/kg) thì chuyển tôm xuống ao nuôi thương phẩm. Trong giai đoạn này tôm được cho ăn bằng máy cho ăn tự động đến 7h đêm. Đáy ao được xiphon định kỳ 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều tối. Nước trong ao nuôi được thay liên tục 24/24h với hình thức chảy tràn. Nước từ ao lắng hoặc từ vuông nuôi quảng canh (có độ trong 30 cm) được bơm trực tiếp vào ao nuôi thông qua hệ thống khử trùng bằng đèn UV có công suất 40 – 60 m3/h, nước trong ao nuôi sẽ thoát ra bên ngoài thông qua hệ thống ống chảy tràn hoặc bằng máy bơm, sau cho công suất đầu bơm vào bằng với công suất nước được bơm ra. Trong suốt thời gian nuôi thương phẩm, ao nuôi được diệt khuẩn định kỳ bằng iodine, vikon…

Trong quá trình nuôi dùng máy UV đặt trực tiếp vào ao nuôi chạy diệt khuẩn và lọc tảo cho ao nuôi (không dùng diệt khuẩn và vi sinh, chỉ sử dụng khoáng tạt định kỳ). Định kì xi phong đáy ao mỗi ngày, giai đoạn tôm về size lớn xi phong 2 lần trên ngày. Định kỳ sử dụng khoáng tạt, vôi CaCO3.

Kết quả đạt được

Sau hai lần nuôi cho thấy, chất lượng các yếu tố môi trường có xu hướng biến động về cuối vụ nuôi, tuy nhiên chúng vẫn nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của tôm. Kết quả nuôi đã cho thấy rằng các yếu tố môi trường ở ao nuôi nhỏ và ao nuôi trung bình tốt hơn trong ao lớn, do lượng nước trong ao được thay tốt hơn 200%/ngày đêm, trong khi đó các ao lớn chỉ thay khoảng 70 – 100% lượng nước/ngày đêm.

Kết quả tương tự cũng cho thấy ở ao nhỏ có mật độ vi khuẩn và mật độ tảo luôn thấp trong suốt vụ nuôi, vì vậy cũng giảm chi phí xử lý thuốc diệt khuẩn. Trong khi đó mật độ tảo và vi khuẩn luôn có xu hướng tăng theo thời gian nuôi.

Kết quả tăng trưởng cho thấy, tôm nuôi bằng công nghệ biofloc trong giai đoạn gièo có kích cở đồng đều hơn so với quy trình chỉ cho ăn đơn thức ăn công nghiệp. Tôm sau 21 ngày nuôi thường đạt 1.000 – 1.200 con/kg. Kết quả nuôi thương phẩm cho thấy, sau 70 ngày ở giai đoạn tiếp theo tôm đạt 40 – 50 con/kg. Kết quả cho thấy trong 30 ngày đầu chuyển giai đoạn xuống ao nuôi thương phẩm tôm có tốc độ tăng trưởng tương đối đồng đều giữa các diện tích ao nuôi và mật độ nuôi. Tuy nhiên, sau 30 ngày nuôi thì sự gia tăng về các yếu tố khí độc và biến động môi trường lớn đối với các ao có diện tích lớn, đã làm tôm chậm lớn do phải tốn một phần năng lượng trong cơ thể để chống lại các biến động ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động sinh lý của tôm. Mặt khác, nuôi tôm trong ao lớn cho thấy tôm dễ bị rủi ro do không tạo vỏ khi lột xác hoặc tôm bỏ ăn khi khí độc lên cao, do những vấn đề trên mà ao lớn trở nên hạn chế khi nâng mật độ nuôi trong lần nuôi thứ 2. Ao lớn chỉ nuôi mật độ tối đa 400 con/m2 trong khi đó ao nhỏ có thể nuôi lên mật độ 600 – 700 con/m2.

Kết quả nuôi cho thấy tỷ lệ sống tôm nuôi dao động 80 – 95%, năng suất tôm nuôi đạt 7 – 10,5 kg/m2, năng suất tôm nuôi có xu hướng gia tăng khi diện tích ao nuôi giảm. Về tỷ suất lợi nhuận cho thấy mô hình nuôi có tỷ suất lợi nhuận 0,5 – 0,7 cao hơn so với CP (0,4). Qua đó, cho thấy giá thành tạo ra 1kg tôm thương phẩm 55.000 – 63.000 đồng, thấp hơn so với quy trình CP (70.000 – 75.000 đồng). Giá thành tạo ra 1kg sản phẩm thấp hơn so với quy trình CP là do trong quá trình nuôi không sử dụng Chlorine, thuốc tím. Mặt khác, do thay nước thường xuyên nên chi phí xử lý vi sinh, bổ sung khoáng chất cho ao nuôi cũng thấp hơn so với CP. Ngoài ra, xét về hiệu quả sử dụng đất quy trình cho thấy tiết kiệm được 50% diện tích cho ao lắng và các hạng mục phụ trợ so với quy trình CP. Bởi vì quy trình chỉ cần 1 ao lắng hoặc vuông quảng canh trong khi đó quy trình CP cần 3 ao lắng.

Kết luận

Qua kết quả quá trình thực hiện cho thấy, nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng quy trình biofloc cho giai đoạn gièo và quy trình chảy tràn theo công nghệ đèn UV cho giai đoạn nuôi thương phẩm đã giúp giảm chi phí vụ nuôi, tăng năng suất và lợi nhuận của vụ nuôi, tiết kiệm diện tích đất, quy trình vận hành đơn giản và tiết kiệm được điện, đặc biệt là trên các ao nuôi có diện tích nhỏ nên quy trình nuôi rất phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau và Huỳnh Xuân Diện, Hợp tác xã nuôi tôm Công nghệ cao Tân Hưng

Nguồn: 2lua.vn/article/nuoi-tom-hai-giai-doan-ket-hop-cong-nghe-biofloc-va-uv-5ddc9bab425cc59f725b24a5.html

Ngăn ngừa mầm bệnh trong trại sản xuất giống

Cơ sở vật chất

Xây dựng trại giống phải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Khi quy hoạch các khu sản xuất giống phải khảo sát chọn lựa địa điểm nuôi phù hợp, thuận lợi, trong đó nguyên tắc quan trọng nhất là không bị các hoạt động sản xuất của khu vực xung quanh gây cản trở hoặc làm ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, các yếu tố khác cũng phải phù hợp như chất lượng nước, độ pH, độ mặn, tính chất của đất. tag: ong nano-tube

Nâng cao chất lượng tôm bố mẹ

Tất cả tôm giống bố mẹ được nhập về từ trang trại nuôi phải qua khu vực cách ly và được kiểm tra hết sức cẩn thận để ngăn chặn sự xâm nhập của tôm nhiễm bệnh vào khu vực nuôi thành thục sinh sản. Khi đã có kết quả, các con tôm bố mẹ được chia theo lô và phân phối đến các bể. Lời khuyên cho các trang trại sản xuất giống là nên lưu trữ các dữ liệu về chu kỳ sản xuất của mỗi lô tôm bố mẹ, từ đó có thể xác định được lô nào cho sản lượng trứng và ấu trùng tốt.

Trong quá trình nuôi, các thông số quan trọng nhất được duy trì trong khu vực này, trong đó nhiệt độ nước 28 – 340C, có sục khí mạnh ở giữa bể. Nước phải được thay hàng ngày để tạo và duy trì một môi trường thuận lợi cho sinh sản, trong điều kiện ánh sáng yếu, và trên hết là tránh ồn ào bởi nó có thể tác động không tốt đến tôm bố mẹ.

Hàng ngày, sử dụng đèn để kiểm qua sự xuất hiện của trứng và quan sát mức độ phát triển của tuyến sinh dục. Dùng vợt bắt nhẹ nhàng những con cái được chọn, sau đó xử lý một cách cẩn thận.

Thực hiện an toàn sinh học

Tất cả các dụng cụ được sử dụng (bể, thùng, pipet) phải được vệ sinh sạch sẽ bằng nước ngọt và được xử lý bằng chlorine ít nhất một lần/tuần.

Trên mỗi bể ương, cần được che chắn bằng bạt (tối nhất là loại geomembrane). Sau mỗi đợt sản xuất, cần vệ sinh sạch sẽ.

Tối thiểu 2 lần/tuần gửi mẫu ấu trùng tôm đến phòng thí nghiệm bệnh học để xét nghiệm. Nếu phát hiện mầm bệnh, các nhà sinh học cần có biện pháp xử lý đối với bể bị nhiễm, bể đó có thể được giữ lại hay cần loại bỏ ngay.

Đảm bảo chất lượng nước

Khi đã xác định được cụ thể ngày thả nuôi thì nước sẽ phải xử lý trước, nhiệt độ được quy định là 290C và hệ thống sục khí được kiểm tra nhằm đảm bảo hàm lượng ôxy hòa tan được duy trì ở mức tối ưu.

Lưu ý tránh việc có quá nhiều chất hữu cơ trong bể nuôi vì điều này có thể thúc đẩy sự phát triển của các loài nguyên sinh động vật, chúng bám vào mang tôm và cản trở quá trình hô hấp của tôm. Nếu vi tảo rơi xuống đáy bể và hình thành các bong bóng thì có thể tôm sẽ bị dính vào đó; quá trình lột xác có thể bị chậm lại ở các ấu trùng yếu và không ăn.

Trong quá trình sống và phát triển ấu trùng sẽ thải phân và vỏ (do lột xác) làm dơ bẩn nước nuôi. Vì vậy muốn giữ ổn định môi trường nuôi, hàng ngày phải tiến hành vệ sinh, thay nước.

Xi phông đáy: Giảm nhẹ sục khí, dùng ống xi phông hút ra toàn bộ đáy bể, loại bỏ hết cặn bã, thức ăn dư thừa, vỏ và xác ấu trùng chết ra ngoài qua vợt. tag: ong aero-tube

Thay nước: Dùng dụng cụ thay nước hút nước ra ngoài đến mức cần thay, sau đó cấp nước mới có cùng điều kiện thủy lý, hóa vào (để tránh xảy ra sự thay đổi đột ngột về môi trường).

Ngăn chặn mầm bệnh vào thức ăn tươi sống

Nhiều loài vi tảo hiện vẫn là nguồn thức ăn tươi sống không thể thiếu đối với ấu trùng tôm, thường được nuôi trong nước biển tự nhiên đã qua xử lý, có bổ sung thêm các dưỡng chất như: nitrat, phosphat, các nguyên tố vi lượng thiết yếu, vitamin và khí cacbonic. Chúng thường được nuôi tại chỗ trong những điều kiện thiếu kiểm soát. Đây là nơi các vi khuẩn gây bệnh có thể sinh sôi, phát triển do mức độ tập trung cao của các chất hữu cơ trong môi trường nuôi. Do vậy, tảo có thể là nơi trú ẩn của các vi khuẩn gây bệnh. Vì vậy, cần có biện pháp để ngăn chặn sự xâm nhập của các tác nhân gây ô nhiễm vào khu vực như thực hiện các quy trình khử trùng cá nhân và quần áo của người xử lý mặc được tiệt trùng hàng ngày. Làm sạch tất cả các thiết bị thủy tinh. Các thùng chứa được làm sạch và khử trùng bằng xà phòng trung tính và acid loãng, sau đó các dụng cụ này được để khô và được khử trùng dưới áp suất và nhiệt độ cao.

Với thể tích nuôi cấy lớn hơn, nên tăng mức độ chiếu sáng và sục khí môi trường nuôi bằng hỗn hợp không khí hoặc khí carbonic. Việc pha loãng độ mặn của môi trường (khoảng 20 – 25‰) để nuôi các loài tảo silic giúp đạt được tốc độ phát triển tốt nhất.

Có phòng thí nghiệm sinh học

Những năm qua, có rất nhiều bệnh là nguyên nhân chính dẫn đến ấu trùng tôm chết với số lượng lớn, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người sản xuất, có những lúc trại giống phải xả bỏ hết tôm ở các bể khi sự tồn tại của mầm bệnh được khẳng định. Đó là lý do tại sao các cơ sở sản xuất giống phải có một phòng thí nghiệm sinh học thích hợp để phát hiện sự có mặt của các virus gây bệnh, các vi sinh vật kí sinh nội bào, vi khuẩn, nấm, các nguyên sinh động vật nội và ngoại ký sinh, các sinh vật sống cộng sinh gây bệnh, các loại độc tố và nhiều yếu tố khác.

Cần có một bộ phận thực hiện việc lấy mẫu hàng ngày ở tất cả các giai đoạn phát triển của ấu trùng. Nhờ vậy, có thể nhanh chóng xác định được sự hiện diện của các mầm bệnh nhằm, từ đó thực hiện các hành động thích hợp khi mà yếu tố thời gian có thể quyết định sự sống hoặc chết của ấu trùng tôm. tag: ống xốp nuôi tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ngan-ngua-mam-benh-trong-trai-san-xuat-giong-5b754030425cc587287d5c6a.html

Xử lý phèn trong nuôi tôm

Nguyên nhân đất phèn

Quá trình hình thành đất phèn là do các chất hữu cơ bị tích tụ phân huỷ trong điều kiện yếm khí có các tập đoàn vi khuẩn khử sunfua, chúng chuyển hoá các hợp chất lưu huỳnh (trong thực vật, trong đất, trong nước biển) thành dạng khí sunfua hydro (H2S), khí này thâm nhập vào nước ngầm và kết hợp với sắt (II) tạo thành sắt sunfua và tiếp tục chuyển hoá thành sắt bisunfua (pyrit, FeS2) dạng tinh thể với phản ứng sau:

2CH2O (hữu cơ) + SO42-  →  H2S + 2HCO3-

Fe(OH)2 + H2S           →    FeS + H2O

FeS + S          →    FeS2 (pyrit)

Việc rút nước quá cạn hay vào mùa khô hạn sẽ làm cho đất nứt nẻ, không khí theo các đường nứt này di chuyển xuống dưới tầng đất có chứa phèn tiềm tàng, do trong không khí có ôxy nên khi được tiếp  xúc với không khí sẽ xảy ra quá trình oxy hoá pyrit và sinh ra axit sunfuaric:

4FeS2 (pyrit) + 15O2 + 14H2O → 4Fe(OH)3  + 8SO42- + 16H+

Ảnh hưởng

Tôm bị mềm vỏ kéo dài. Ao bị nhiễm phèn lượng canxi và khoáng chất cần thiết cho quá trình tạo vỏ luôn bị thiếu hụt. Vì vậy việc bổ sung vôi vào những ao bị phèn cần một lượng rất lớn và hợp chất tạo thành là thạch cao không có lợi nhiều cho ao nuôi. tag: ong nano-tube

Tôm lột xác không hoàn toàn dẫn đến tỷ lệ sống rất thấp.

Tôm chậm lớn, màu sắc kém. Trong môi trường ao nuôi bị nhiễm phèn, pH thấp sẽ có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với các ao khác không nhiễm phèn, sắc tố kém… quá trình hô hấp với tần suất cao làm tôm tiêu hao năng lượng lớn, các hoạt động của enzyme ngừng trệ, hấp thu khoáng chất kém dẫn đến khả năng tăng trưởng của vật nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Ảnh hưởng đến quá trình hô hấp. Tôm sống trong vùng đất nhiễm phèn thì quá trình hô hấp tăng cao vì khả năng gắn kết giữa ôxy và hemoglobin giảm do đó sẽ tiêu hao nhiều năng lượng cho quá trình hô hấp, giảm sức tăng trưởng, sinh sản…

Nồng độ pH thấp làm cho lượng khí H2S trở nên độc hơn gây ức chế cho quá trình trao đổi chất và chuyển hóa ôxy của tôm nuôi làm cho tôm nuôi chậm lớn, màu sắc kém mất giá.

Khi ao nhiễm phèn pH thấp thì các ion như Fe2+, Al3+ sẽ kết hợp với phốt pho (có trong phân lân) tạo thành hợp chất khó tan, hạn chế dinh dưỡng cho tảo phát triển gây nên hiện tượng khó gây màu nước ao nuôi.

Giải pháp

Không nên phơi khô nền đáy ao quá lâu đối với ao nhiễm phèn tiềm tàng. Các vết nứt trên nền đáy ao tạo điều kiện cho ôxy vào và ôxy hóa pyrit sắt. Khi cấp nước vào sẽ giải phóng hợp chất này ra khiến cho việc xử lý trở nên khó hơn. Tốt nhất là nên cải tạo ướt, xổ xả liên tục. Nếu có cày đáy ao thì cày ướt và ngâm nước liền. Nếu phơi nền đáy ao thì chỉ phơi khô đến nứt chân chim. tag: ong aero-tube

Bón vôi đáy ao: nhằm mục đích nâng pH đáy, khử phèn và tạo hệ đệm cho đáy. Nên bón vôi vào buổi chiều mát và cấp nước vào sáng ngày hôm sau. Không nên phơi đáy ao quá lâu.

Đối với những ao nuôi có đất bị nhiễm phèn, khi cải tạo cần dùng giấy quỳ để kiểm tra pH của đáy ao hoặc nhai trầu rồi nhổ xuống bùn đáy ao, nếu nước trầu vẫn đỏ tươi chứng tỏ pH trong ngưỡng phù hợp (7 – 8); nếu nước trầu chuyển từ màu đỏ sang màu thẫm hoặc tím chứng tỏ nền đáy bị xì phèn cần tăng lượng vôi nông nghiệp CaO bón xuống ao, liều lượng 15 – 18 kg/100 m2.

Cần dùng bạt phủ kín và từ đáy ao lên mặt bờ xung quanh ngăn không cho nước mưa thấm qua bờ tràn xuống, hoặc đắp gờ đất ngăn không cho nước mưa chảy trực tiếp xuống ao. Sau khi trời mưa, cần nhấc cánh phai phía trên của cống thoát để tháo bớt lượng nước ở tầng mặt tránh sốc pH cho tôm, cá.

Đầm nén bờ chắc chắn và giữ mực nước ao cân bằng với mương nước hoặc ao xung quanh, tránh mực nước thấp, xì phèn sẽ rò rỉ, thẩm lậu theo nước vào ao. Trong quá trình nuôi, sử dụng vôi bột hoặc vôi tôi hòa loãng với nước té đều xuống ao, liều lượng 0,5 – 10 kg/1.000 m2, định kỳ 20 ngày/lần, trước khi trời mưa nên rải vôi quanh bờ ao với liều lượng 10 kg/1.000 m2. Thường xuyên dùng hộp giấy quỳ đo pH của nước, mức thích hợp cho tôm cá sinh trưởng và phát triển 6,5 – 7,5, nếu thấp hơn ngưỡng cho phép thì phải té vôi ngay liều lượng 1 – 2 kg/100 m2.

Ở những ao bị xì phèn, nước có độ trong cao, ao nghèo dinh dưỡng, tảo không phát triển. Vì vậy, nên thay nước cũ thêm nước mới vào hoặc dùng vôi Dolomite liều lượng 20 – 30 kg/1.600 m2, bón 2 ngày 1 lần, trong vòng 20 ngày đầu để gây và giữ màu nước cho ao nuôi.

Đối với ao nuôi tôm, khi pH hạ thấp ngoài dùng vôi, người nuôi còn có thể sử dụng sản phẩm Sitto Thio 5.000, liều lượng 1 lít/300 m3 nước và kết hợp thêm Zeolite 10 kg/1.000 m3 nước để ổn định môi trường nước. tag: ống xốp nuôi tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/xu-ly-phen-trong-nuoi-tom-5b7540ba425cc528257d5c6c.html

Phụ kiện CX140, BK140 và RX lắp ráp quạt guồng

Thân chào Quý bạn đọc,

Ngày 4/10/2019 đánh dấu bước ngoặc mới trong phương pháp lắp đặt quạt guồng trong ao nuôi tôm.

Với sự nỗ lực không ngừng và quá trình nghiên cứu thực nghiệm nghiêm túc, Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu 2 Lúa đã sáng chế và sản xuất thành công bộ phụ kiện 2 Lúa CX140, 2 Lúa BK140 và 2 Lúa RX lắp ráp quạt guồng bằng ống nhựa PVC Φ140.

Mong muốn mang đến giải pháp nuôi tôm hiệu quả, giảm chi phí đầu tư nuôi tôm cũng như giảm chi phí bảo hành, bảo trì vận hành trong quá trình nuôi tôm, bộ phụ kiện được sáng chế tinh tế, đơn giản, chắc chắn và bền bỉ.

Bộ phụ kiện làm khung quạt gồm

– Cùm 2 Lúa CX140: Dùng để đỡ Con lăn RX.

– Cùm 2 Lúa BK140: Dùng để cố định 2 phía đầu khung dàn quạt.

– Con lăn 2 Lúa RX: Con lăn Cao su, giảm ma sát thanh tuýp dàn quạt, tăng độ bền.

Chất liệu sản xuất bộ phụ kiện làm khung quạt

Nhựa PP chất lượng cao

Cao Su lưu hóa

Bulong-Đinh tán: INOX A-270

Đánh giá ban đầu khi lắp ráp

Khi sử dụng bộ phụ kiện 2 Lúa CX1402 Lúa BK140 và Con lăn 2 Lúa RX để làm khung máy quạt nước thời gian lắp ráp nhanh hơn, dễ di chuyển hơn.

Phụ kiện 2 Lúa BK140 được Nhà sản xuất 2 Lúa thiết kế sẵn các lỗ trên mặt đế, bà con có thể bắt cố định bằng Đinh tán hoặc cùm chữ U (Φ34) hoặc buột dây rất tiện lợi.

Nếu bà con đã có sẵn ống nhựa Φ114, bà con vẫn có thể sử dụng bộ phụ kiện trên bằng cách chèn thêm vỏ xe vào.

Mẹo!

– Ống phao mua của BÌNH MINH, ĐẠT HÒA, HOA SEN độ bền khoảng 10-15 năm!

– Bộ Phụ kiện 2 Lúa CX140, 2 Lúa BK140, Con lăn 2 Lúa RX sử dụng nhựa PP tốt 100%; dẻo, bền, chịu va đập mạnh, bề mặt bóng mượt nên hạn chế bám rong; Bulong-Đinh tán lựa chọn Inox 304 độ bền được khoảng 10 năm!

– Không bị rò rỉ nước vào ống, chịu được nhiệt độ cao…

– Độ dài phao tuỳ theo kích thước ao nuôi/số lượng cánh quạt mà bà con có thể cắt dài hay ngắn.

Khung phao PVC
Lắp ráp khung phao
Khung quạt guồng
Lắp ráp khung quạt guồng
Lắp ráp quạt guồng
Lắp ráp dàn quạt sử dụng Con lăn 2 Lúa RX
Làm dàn quạt nuôi tôm
Lắp ráp dàn quạt sử dụng Con lăn tăng đưa
Làm dàn phao máy cho tôm ăn
Lắp ráp dàn phao máy cho tôm ăn

Nuôi tôm bằng vi sinh tiết kiệm mà hiệu quả

Vậy sự lựa chọn men vi sinh nào là thích hợp? Theo thành phần hoặc theo hàm lượng, uy tín của nhà sản xuất, liều dùng mỗi lần và chi phí cả vụ, giá cả và dịch vụ tư vấn, qua kinh nghiệm truyền nhau, sản phẩm sản xuất trong nước hay là nhập khẩu? Câu trả lời sẽ là tất cả những quan tâm trên đây. tag: ong nano-tube

Giữa vô số các loại men vi sinh trên thị trường hiện nay, có lẽ người nuôi nên “tỉnh táo” để lựa chọn, đừng bị choáng ngợp bởi sản phẩm có đa dạng thành phần ở mức “số mũ to” hoặc liều sử dụng thấp, ngôn từ hoa mỹ về công dụng sản phẩm hay là giá cả thấp và chiết khấu cao.

Ưu tiên lựa chọn nên là kinh nghiệm truyền nhau, uy tín của nhà sản xuất / công ty phân phối và trên hết là trải nghiệm thực tế tại chính ao nuôi của mình.

Thực chất, có nhiều sản phẩm với thành phần và định lượng “khủng” nhưng khi xử lý tại ao không mấy tác dụng hoặc phải tăng liều gấp hai hoặc ba lần so với hướng dẫn sử dụng mà kết quả vẫn không như mong đợi

. Ngay cả khi đếm đủ định lượng vi khuẩn thì cũng chưa chắc là sản phẩm sẽ có hiệu quả trong môi trường ao nuôi thực tế vì phụ thuộc vào khả năng sống và phạm vi hoạt động / kiểm soát của từng loài / dòng vi sinh, lượng oxy, thông số lý hóa của đất và nước, tỉ lệ chất nền hữu cơ trong ao.

Bí quyết của một sản phẩm men vi sinh tốt sẽ ở kỹ thuật công nghệ nuôi cấy vi sinh của nhà sản xuất để đảm bảo các dòng vi khuẩn có lợi hoàn toàn tự nhiên, không biến đổi gien và chất lượng ổn định. Một số dòng vi khuẩn có lợi có khả năng kiểm soát tốt các thành phần dinh dưỡng trong cột nước để duy trì mật độ tảo ở mức thích hợp và hạn chế tảo độc phát triển, hoặc để ngăn ngừa các loại vi khuẩn hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao.

Đối với đáy ao có siphon hoặc không có siphon cũng rất cần những dòng vi khuẩn mạnh để kiểm soát sự tích tụ đáy ao, hạn chế quá trình yếm khí trong ao, giảm các loại khí độc (NH3, H2S) và hơn thế nữa là có thể hình thành các protein vi khuẩn và các floc để làm nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho tôm. Vì thế, người nuôi nên sử dụng kết hợp sản phẩm men vi sinh xử lý đáy và nước để kiểm soát môi trường ao nuôi tốt hơn.

Người nuôi cũng nên lựa chọn các nhà sản xuất có uy tín, chuyên nghiệp và công nghệ vi sinh tiên tiến. Men vi sinh chính là những vi khuẩn sống nên đòi hỏi quy mô thiết bị hiện đại để sản xuất được các sản phẩm thực sự chất lượng cao và ổn định. Ngoài ra, các nhà sản xuất chuyên nghiệp còn có khả năng truy xuất nguồn gốc mọi thành phần trong sản phẩm từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.

Song song với hiệu quả xử lý của sản phẩm, người nuôi tất nhiên sẽ lưu tâm tính toán đến liều lượng xử lý và chi phí toàn bộ vụ nuôi. Mỗi đợt xử lý đều phải tăng liều và/ hoặc thời gian xử lý định kỳ ngắn ngày hơn thì sản phẩm giá rẻ sẽ trở thành quá đắt khi tính trên cả vụ nuôi, chưa nói đến rủi ro nếu môi trường nuôi không được xử lý kịp thời ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và chất lượng tôm nuôi.

Khi đã chọn được một sản phẩm vi sinh tốt, người nuôi cũng cần quan tâm đến cách dùng sản phẩm: tính toán liều chính xác, định kỳ xử lý hoặc chia liều định kỳ nhỏ lại hoặc tăng liều tùy theo điều kiện thông số môi trường và quy trình cho ăn.

Thường xuyên theo dõi khay thức ăn và kiểm tra bùn đáy ao để xử lý liều vi sinh thích hợp.

Môi trường đáy ao biến động xấu, tôm sẽ ăn nhiều thức ăn trong khay, nên người nuôi có thể cho ăn nhiều hơn hoặc tăng cữ ăn sẽ làm môi trường tệ hơn, khi đó phải tăng liều vi sinh thì sẽ tốn chi phí hơn và lãng phí thức ăn.

Cũng sẽ rất mất thời gian và lãng phí khi dùng liều vi sinh quá cao có thể gây sụp tảo, mất cân bằng môi trường gây căng thẳng cho thủy sản nuôi.

Ở các ngày nhiệt độ cao hoặc mưa liên tục thì cần điều chỉnh tăng liều vi sinh thích hợp để tảo không phát triển quá dày.

Không sử dụng vi sinh cùng lúc với hóa chất và kháng sinh, vì hóa chất và kháng sinh sẽ làm chết hoặc làm mất tác dụng của vi sinh. Nếu đã sử dụng hóa chất và kháng sinh trong ao thì khoảng 2 – 3 ngày sau nên sử dụng vi sinh để khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong ao để cải thiện chất lượng nước và đáy ao.

Đa phần các sản phẩm vi sinh ở dạng bột, người nuôi nên cân trọng lượng liều phù hợp với đối tượng nuôi, mật độ và diện tích / thể tích ao nuôi. Cách sử dụng men vi sinh dạng bột là nên cho vào chậu một ít nước trước khi đổ sản phẩm vào để hạn chế bị gió tạt, khuấy đều và tạt khắp ao.

Thời gian xử lý vi sinh tốt nhất là lúc trời nắng và khi môi trường trong ao đã đủ lượng oxy hòa tan để các dòng vi khuẩn nhanh chóng được khởi động và nhân rộng sinh khối. tag: ong aero-tube

Có một quan niệm nên thay đổi về cách sử dụng men vi sinh là việc không sử dụng trước khi thả giống và sau khi thu hoạch, sử dụng loại men chất lượng trung bình, cắt giảm liều ở giai đoạn nuôi đầu vụ thì đều không thích hợp.

Môi trường ao nuôi trước khi thả giống đã được cải tạo và diệt khuẩn kỹ nên rất cần liều vi sinh mầm đầu tiên để nhân rộng sinh khối vi khuẩn có lợi đủ để lấn át vi khuẩn có hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao, đồng thời duy trì sử dụng vi sinh trong suốt quá trình nuôi để tạo môi trường thuận lợi nhất cho tôm phát triển.

Mặt khác, sau khi thu hoạch, ao nuôi còn lại rất nhiều các chất thải, cặn bã, phân tôm, xác tảo, bùn đen, mùi hôi thối, … cho nên cần sử dụng vi sinh để xử lý nước và đáy ao trước khi xả thải ra môi trường nhằm duy trì cho ao nuôi / vùng nuôi an toàn sinh học và bền vững ở các vụ tiếp theo.

Nên lưu ý rằng chi phí xử lý sự cố / rủi ro biến động môi trường hoặc phục hồi môi trường thì rất tốn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỉ lệ sống của tôm hoặc thủy sản nuôi. Men vi sinh không phải là liều thuốc tiên, nên không thể khi nào có sự cố môi trường thì mới sử dụng.

Cần định kỳ xử lý vi sinh để duy trì một mật độ vi khuẩn thích hợp nhằm kiểm soát sinh học môi trường nước và đáy ao, ổn định các điều kiện mong muốn trong môi trường nuôi trồng, ngăn ngừa và lấn át các loài vi khuẩn gây bệnh, tảo độc và mầm bệnh tiềm tàng trong ao

. Người nuôi nên áp dụng quy trình xử lý vi sinh trước, trong và sau mỗi vụ nuôi.

Men vi sinh nên được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp, nóng và nơi ẩm thấp. Nếu sử dụng không hết gói thì gói kín phần còn lại, cần tránh ẩm để không bị đóng vón.

Tóm lại, chọn một loại men vi sinh tốt sử dụng đúng cách kết hợp trong quy trình nuôi an toàn sinh học sẽ giúp người nuôi quản lý và theo dõi môi trường nuôi thuận lợi hơn và đảm bảo an toàn sức khỏe cho tôm và thủy sản nuôi khác. tag: ống xốp nuôi tôm

Đất cằn thì trồng na.

Dọc con đường đến UBND xã Bồ Lý, huyện miền núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc) chúng tôi bắt gặp nhiều hộ ở lưng chừng đồi, có vườn cây ăn quả tươi tốt.

Chăm sóc na.

Nhà nào cũng có vườn rộng. Lối đi giữa, hai bên là vườn mít, ổi, thanh long… Nhưng phổ biến nhất, là na. Các vườn na ở đây, 100% là giống na dai. Rẽ vào thăm ông Nguyễn Văn Nghĩa, thôn Tân Lập, hai bên lối đi, là vườn cây ăn quả. Ông Nghĩa cho biết, gia đình vừa thu một lứa quả, thương lái đến tận nơi “cất hàng”. Mỗi ngày đều đặn hái quả 2 lần. Thu hái đến đâu, thương lái vào mua đến đấy.

Bà con ở đây cho biết, thôn nào cũng trồng na. Nhưng nhiều nhất, tập trung nhất, là ở 2 thôn Ngọc Thụ (Khu 8) và thôn Trại Mái (Khu 9). Hai thôn này có khoảng 70 ha trồng na và 100% là na dai. Na dai ở đây quả to vừa phải, nhưng ăn ngọt mát, vị thơm đặc biệt.

Tìm vào nhà ông Nguyễn Văn Tuyến – Trưởng thôn Trại Mái – chúng tôi thấy một vườn na sai quả. Ông Tuyến cho biết, dân ở đây có thói quen thu hái na ngày 3 lần. Sáng sớm thu lần 1. Đến khoảng 9 giờ thu lần 2. Chiều khoảng 3 giờ thu lần 3. Họ thu na theo cách chín tự nhiên, nên không để lâu ngày. Không như các vùng na khác “hãm” na lâu chín. Bởi vậy, na ở đây được coi là “na sạch” không dùng bất cứ thứ hóa chất gì.

Ông Tuyến cũng cho biết, các thương lái đều đăng ký từng nhà, và đến từng nhà thu mua. Tùy theo thời gian, giá na dao động từ 30 đến 50 ngàn đồng/kg. Trung bình mỗi hộ trong thôn có 3 sào trồng na. Mỗi cây na cho từ 10 đến 20 kg/vụ. Thu hoạch rầm rộ nhất là từ cuối tháng 6 đến hết tháng 7. Thu hoạch theo kiểu chín đến đâu, thu hái đến đó. Tag: thiết bị sục khí

Các thôn từ ngày có cây na dai, đời sống khấm khá hẳn lên. Cây na cho thu nhập ổn định, không lo đầu ra. Chỉ có điều nên phát triển như thế nào. Những nhà có diện tích bình thường (từ 3 đến 5 sào) mỗi năm thu nhập cũng hàng trăm triệu đồng. Không ít nhà có diện tích từ 1 đến 2 mẫu (10 sào/mẫu) thì thu nhập phải cỡ tiền tỷ.

Hiện ở thôn Trại Mái, có gần 190 hộ và thôn Ngọc Thụ có trên 200 hộ trồng na. Đời sống rất ổn định, thu nhập khá. UBND xã Bồ Lý đang có kế hoạch hình thành một vùng na giai tập trung và xây dựng quả na dai Bồ Lý thành thương hiệu, được công nhận là loại quả đặc sản của địa phương.

Nguồn: 2lua.vn/article/dat-can-thi-trong-na-5d7b03cb425cc50840853324.html

Thân chào Quý bạn đọc,

máy thổi khí

Gần đây tôi nhận được nhiều tư vấn về Máy thổi khí bị nóng khi hoạt động. Qua bài viết này, tôi tổng kết và đưa ra các gợi ý để khắc phục tình trạng Máy thổi khí bị nóng.

Nhiều năm cung cấp Máy thổi khí cho ao nuôi tôm, đội ngũ kỹ thuật Công ty 2 Lúa nhận thấy Máy thổi khí bị nóng do nhiều nguyên nhân, phần nhiều do chưa nắm rõ thông số kỹ thuật thiết bị cũng như cách lắp đặt sục khí phù hợp.

Quy ước:

Máy thổi khí bị nóng trong bài viết này được hiểu là nóng quá mức bình thường, sức nóng có thể làm giảm nở ống nhựa.

A. Các nguyên nhân Máy thổi khí bị nóng

A.1/ Máy thổi khí bị nóng do dư lưu lượng khí

Trường hợp này khá phổ biến hiện nay, bà con mua Máy thổi khí để cung cấp sục khí đáy với ống Nano-Tube , phần chưa nắm rõ thông số kỹ thuật Máy thổi khí và nhu cầu lưu lượng khí của ống Nano-Tube.

  • Máy thổi khí AT-50 cung cấp lưu lượng khí cho 70m ống Nano-Tube;
  • Máy thổi khí AT-65 cung cấp lưu lượng khícho 90m Nano-Tube;
  • Máy thổi khí AT-80 cung cấp lưu lượng khícho 120m Nano-Tube;
  • Lưu ý: Tốc độ quay 1450 vòng /phút; độ sâu của ao là 1m – 1.2m

Vì một vài lý do, bà con sử dụng một số lượng rất ít ống Nano-Tube (ao nuôi nhỏ, nuôi thử nghiệm).

Do ống Nano-Tube sử dụng quá ít, dẫn đến không thể xả (tiêu thụ) hết lượng khí của Máy thổi khí kéo theo Máy thổi khí bị ép, gia tăng áp suất dẫn đến Máy thổi khí bị nóng, amp của Motor tăng cao, có thể gây hỏng motor.

A.2/ Ống Nano-Tube không được thay mới thường xuyên

Ống Nano-Tube là dạng xốp, lỗ thông hơi qua nhiều lớp, không theo một trật tự cố định (zíc-zắc), vậy nên sau một thời gian sử dụng, ống bắt đầu xuất hiện hiện tượng bị nghẹt. Nếu môi trường nước nhiều chất lơ lửng, bùn bã nhiều thì quá trình nghẹt trở nên nhanh hơn.

Khi ống Nano-Tube nghẹt, lượng không khí tiêu thụ (xả) ít hơn làm tăng áp lực lên Máy thổi khí dẫn đến Máy thổi khí bị nén trở lại, nhiệt độ bắt đầu gia tăng quá mức bình thường.

A.3/ Máy thổi khí nóng do ống dẫn nhỏ; nhiều điểm co, gấp khúc…

Một nguyên nhân dẫn đến Máy thổi khí nóng là sử dụng đường dẫn hơi từ máy ra xung quanh ao quá nhỏ (phi Φ21, Φ27).

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, sử dụng ống đường kính tối thiểu phi Φ42, Φ60.

Đường kính ống càng nhỏ thì ma sát càng lớn và ngược lại. Một lưu ý là giảm bớt số lượng co, tê càng nhiều càng tốt, giúp lưu thông không khí tốt hơn.

A.4/ Lượng nhớt không đủ hoặc chất lượng kém

Do trong quá trình máy hoạt động trên ao, người vận hành không chú ý kiểm tra mức nhớt trong máy hoặc do mắt thăm nhớt báo không chính xác.

Mọt nguyên nhân nữa được chỉ ra là sử dụng nhớt kém chất lượng.

B/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng

B.1/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng do dư lưu lượng khí

Giảm tốc độ quay của Máy thổi khí bằng cách sử dụng pu-li của Motor nhỏ hơn pu-li của Máy thổi khí.

Tăng số lượng ống Nano-Tube bằng cách gắn bổ sung 10-15m hoặc nhiều hơn tuỳ thuộc mức độ dư lưu lượng của Máy thổi khí.

Gắn thêm Van xả vào đường ống. Bạn có thể làm giảm áp lực cho Máy thổi khí bằng cách gắn thêm Van xả, điều chỉnh Van xả phù hợp cũng là giải pháp đơn giản để cân bằng áp suất cho Máy thổi khí.

B.2/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng do ống Nano-Tube nghẹt

Theo định kỳ, bạn nên thay thế mới ống Nano-Tube 6 tháng một lần.

Sử dụng Van một chiều để ngăn nước thấm ngược trở vào ống Nano-Tube. Sử dụng Ống Nano-Tube chất lượng tốt cũng hạn chế quá trình nghẹt của ống.

B.3/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng do ống dẫn nhỏ, gấp khúc

Ống dẫn chính từ máy thổi khí ra xung quanh ao hay bể nuôi nên sử dụng phi Φ42 trở lên.

Đối với ao nuôi có diện tích nhỏ (dưới 100m2), bạn có thể sử dụng ống phi Φ34.

Đương kính ống càng lớn ma sát càng nhỏ, điều này sẽ giúp cho Máy thổi khí hoạt động ổn định hơn.

Trong quá trình lắp đặt đường ống, chú ý đến các gốc co, hạn chế các góc gấp khúc. Sử dụng ống PVC chất lượng tốt, dán keo cẩn thận để đảm bảo đường ống không bị xì hơi. Nếu đường ống bị xì hơi, bạn rất khó phát hiện cũng như tìm ra vị trí bị xì.

B.4/ Sử dụng nhớt chất lượng tốt, thay nhớt thường xuyên

Theo khuyến cáo, nhớt sử dụng cho Máy thổi khí là nhớt 90, loại chất lượng tốt.

Định kỳ 30 ngày thay nhớt 1 lần (nếu chạy liên tục 24/24).

Đổ đủ số lượng nhớt vào họp nhớt của Máy thổi khí.


Một quan điểm sai lầm khi cho rằng sử dụng số lượng ống Nano-Tube ít để sục khí mạnh! Hãy hiểu rằng, nếu bọt khí phụt ra từ ống Nano-Tube quá mạnh, chúng sẽ trồi lên mặt nước rất nhanh, không có thời gian tiếp xúc trong nước để quá trình phản ứng diễn ra, oxy hoà tan rất thấp.

Sục khí đáy
Sục khí ao tôm

Trên đây là những chia sẽ từ kinh nghiệm thực tế. Sẽ còn nhiều nguyên nhân và cách làm tốt khác để hệ thống sục khí hoạt động hiệu quả hơn.

Cân bằng giữa lưu lượng khí của Máy thổi khí cung cấp với số lượng ống Nano-Tube sử dụng dụng. Khi đó Máy thổi khí hoạt động hiệu quả hơn, nhiệt độ ổn định, bọt khí tạo ra từ ống Nano-Tube nhỏ hơn, thời gian tương tác lâu trong nước, oxy hoà tan sẽ đạt hiệu suất cao hơn.

Nguồn: 2Lúa Blog hoặc Internet;
Tác giả: 2Lúa hoặc 2Lúa tổng hợp